Chương 1. Lê Quý Đôn – nhà quản lí làm khoa học 1. Lê Quý Đôn – Thân thế Lê Quý Đôn 黎貴惇, 1726 - 1784, tự Duẫn Hậu 允厚, tên thuở nhỏ là Lê Danh Phƣơng, hiệu Quế Đƣờng. Thuở nhỏ, ông có tên là Danh Phƣơng, đến năm 1743 sau khi đỗ giải nguyên trƣờng Sơn Nam thì đổi thành Lê Quý Đôn vì không muốn trùng tên với một thủ lĩnh nông dân lúc bấy giờ đang nổi lên chống triều đình (Nguyễn Danh Phƣơng).
Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ (2 tháng 8 năm 1726) tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam; nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hƣng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông là con trai cả của ông Lê Phú Thứ (sau đổi là Lê Trọng Thứ), đỗ Tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (Giáp Thìn, 1721), và làm quan trải đến chức Hình bộ Thƣợng thƣ, tƣớc Nghĩa Phái hầu. Mẹ Lê Quý Đôn họ Trƣơng (không rõ tên), là con gái thứ ba của Trƣơng Minh Lƣợng, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1700), trải nhiều chức quan, tƣớc Hoằng Phái hầu. Trong bối cảnh kiêu binh gây rối, triều chính rối ren, nhân dân đói khổ,.Lê Quý Đôn lâm bệnh nặng.
Sau đó, ông xin về quê mẹ là làng Nguyễn Xá (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) để chữa trị, nhƣng không khỏi. Ông mất ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Hƣng thứ 45 (tức 11 tháng 6 năm 1784), lúc 58 tuổi. Thƣơng tiếc, chúa Trịnh Tông (tức Trịnh Khải) đã đề nghị với vua Lê Hiển Tông cho bãi triều ba ngày, cử Bùi Huy Bích làm chủ lễ tang, đồng thời cho truy tặng Lê Quý Đôn hàm Công bộ Thƣợng thƣ. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đến khi vua Lê Chiêu Thống nắm quyền chính, ông đƣợc gia tặng tƣớc Dĩnh quận công.
Ngoài đầu óc thông tuệ đặc biệt cộng với vốn sống lịch lãm và một nghị lực làm việc phi thƣờng, phải kể đến thời đại mà Lê Quý Đôn sống. Và ông là đứa con đẻ, là sản phẩm của thời đại ấy kết tinh lại. Lê Quý Đôn sống vào thế kỉ có những thay đổi lớn trong lòng xã hội Việt Nam. Sự khởi sắc của nền kinh tế hàng hoá, sự mở rộng thị trƣờng trong nƣớc và thế giới, những bƣớc phát triển vƣợt bậc của ngoại thƣơng đƣa đến nhiều cơ hội phát triển cho thƣơng nghiệp, thủ công nghiệp; sự tiếp xúc với chủ nghĩa tƣ bản phƣơng Tây làm cho một số thị trƣờng của nƣớc ta phồn thịnh, nhất thời hƣng khởi; một loạt thành thị hình thành khiến tầng lớp thị dân và nửa thị dân dần gia tăng,… Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống tinh thần, văn hoá, khoa học của nƣớc ta; xuất hiện những đòi hỏi sự chuyển biến của ý thức.
Chính nhu cầu của tƣ duy lí luận và những đòi hỏi của thực tiễn lúc bấy giờ đã đƣa đến sự xuất hiện của nhiều tên tuổi lớn. Và Lê Quý Đôn thực sự trở thành “tập đại thành”của tri thức cao nhất của Việt Nam thế kỉ XVIII. Ông là con đẻ, là sản phẩm của thời đại ấy kết tinh lại. Dẫu rằng, chuỗi thời gian ông sống và hoạt động không phải là giai đoạn thịnh trị nhất trong lịch sử nƣớc ta, nhƣng phải thừa nhận, ông đã đƣợc họ Trịnh quan tâm ủng hộ, tin dùng.
Các bề trên này đã bố trí ông vào những chức vụ trọng yếu trong triều đình, tạo điều kiện thuận lợi cho ông đi nhiều, đọc nhiều, trải nghiệm nhiều, biết nhiều, làm cho học vấn của ông ngày càng sâu rộng hơn. Với năng lực thông tuệ, tinh tế, tƣ duy sâu sắc và học vấn rộng lớn, ông đã trở thành nhà tƣ tƣởng có tri thức uyên bác, thâu gom rất nhiều lĩnh vực vào các công trình để đời của mình. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lê Quý Đôn - Sự nghiệp quan trường Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, chăm học.
Năm 14 tuổi, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy cậu bé 14 tuổi đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia. 18 tuổi, Lê Quý Đôn thi Hƣơng đỗ Giải nguyên. 27 tuổi đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn.
Sau khi đã đỗ đạt, Lê Quý Đôn đƣợc bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê - Trịnh, nhƣ: Hàn lâm thừa chỉ sung Toản tu quốc sử quán (năm 1754), Hàn lâm viện thị giảng (năm 1757), Đốc đồng xứ Kinh Bắc (năm 1764), Thị thƣ kiêm Tƣ nghiệp Quốc tử Giám (năm 1767), Tán lý quân vụ, Thị phó đô ngự sử (năm 1768), Công bộ hữu thị lang (năm 1769), Bồi tụng (Phó thủ tƣớng) (năm 1773), Lại bộ tả thị lang kiêm Tổng tài quốc sử quán (năm 1775), Hiệp trấn tham tán quân cơ Trấn phủ Thuận Hóa (năm 1776), Hiệp trấn Nghệ An (năm 1783), Công bộ thƣợng thƣ (năm 1784). Lê Quý Đôn, thời kì đầu làm quan, với tuổi trẻ hào hùng, ngập tràn lý tƣởng, ƣa hƣớng tới những gì lớn lao mà ít để ý đến chông gai vốn sẵn trên đƣờng đời. Chính sự hăm hở, xông xáo đã đƣa ông đến tình trạng “chơi vơi giữa dòng hoạn lộ” và phải chịu sự công kích của những kẻ đố kỵ trong triều. Từ lâu, Lê Quý Đôn đã nung nấu tƣ tƣởng làm một cuộc cải cách nhằm cải biến cái xã hội đang suy bại thành một cơ thể lành mạnh, một xã hội thái bình thịnh trị nhƣ những điều ông từng nghiền ngẫm qua sách vở Nho học.
Năm 1764, ông dâng sớ xin thiết định pháp chế. Tiếp đó, ông lại dâng khải điều trần về việc ngăn chặn tệ tham nhũng, về khẩn hoang và mở đồn điền. Ông còn vận động một số học quan có tâm huyết thay đổi chƣơng trình khoa cử, đào tạo nhân tài. Trong cuộc đời làm quan của Lê Quý Đôn, có 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mấy sự kiện sau có ảnh hƣởng lớn đối với sự nghiệp trƣớc tác, văn chƣơng của ông.
Đó là chuyện đi sứ Trung Quốc năm 1760 - 1762. Tại Yên Kinh (Bắc Kinh), Lê Quý Đôn gặp gỡ các sứ thần Triều Tiên, tiếp xúc với nhiều trí thức nổi tiếng của nhà Thanh, bàn lận với họ những vấn đề sử học, triết học. Học vấn sâu rộng của ông đƣợc các học giả Trung Quốc, Triều Tiên rất khâm phục. ở đây, Lê Quý Đôn có dịp đọc nhiều sách mới lạ, kể cả sách của ngƣời phƣơng Tây nói về địa lý thế giới, về ngôn ngữ học, thủy văn học.
Đó là các đợt Lê Quý Đôn đi công cán ở các vùng Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn những năm 1772, 1774, làm nhiệm vụ điều tra nỗi khổ của nhân dân cùng tệ tham nhũng, ăn hối lộ của quan lại, khám đạc ruộng đất các vùng ven biển bị địa chủ, cƣờng hào địa phƣơng man khai, trốn thuế. Chính nhờ quá trình đi nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều, biết nhiều việc đời nhƣ vậy mà kiến thức Lê Quý Đôn trở nên phong phú vô cùng. Về phƣơng diện chính trị ông muốn tổng hoà cái thuyết đức trị, nhân trị của Nho gia và cái pháp trị của Pháp gia (Tuân Tử). Ông chủ trƣơng dùng nguyên lý “Đạo chi dĩ Đức, Tề chi dĩ Lễ” (lấy Đức mà dẫn đƣờng cho dân, lấy Lễ khiến cho dân nhất trí).
Càng dấn thân vào nghiệp chính trị, Lê Quý Đôn càng ý thức đƣợc rằng: Phải có quyền lực thực sự đứng đầu Triều đình thì mới đủ điều kiện thực thi cải cách…Chúa Trịnh Sâm biết rõ năng lực và hoài bão của Lê Quý Đôn, một mặt rất cần ông, nhƣng mặt khác vẫn dè dặt khi cất nhắc. Không bao giờ họ Trịnh lại trao cái quyền lớn nhất cho Lê Quý Đôn. Ông cũng nhận ra điều ấy, với Lê Quý Đôn điều này càng nghiệt ngã bởi cái chí của ông quá lớn đối với hoài bão thứ nhất này không đƣợc viên mãn cho đến cuối đời vẫn ôm nỗi “bất đắc chí”. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lê Quý Đôn - Sự nghiệp học thuật Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, Lê Quý Đôn là học giả uyên bác và đa dạng nhất. Sự xuất hiện của ông đƣợc coi nhƣ là một trong những “hiện tƣợng văn hóa” ở thế kỷ XVIII – thế kỷ của nghịch lý: sự “bừng nở” của văn hóa đi liền với sự khủng hoảng của chế độ phong kiến dân tộc. Trong Lê Quý Đôn có cả cái vốn sống làng quê và kinh thành. Nếu nhƣ những năm tháng ở làng giúp ông tích lũy đƣợc một kho tri thức dân gian phong phú, thì văn minh đô thị Thăng Long đã đào luyện ông từ một ngƣời có năng khiếu thiên bẩm thành một tài năng lớn.
Bình sinh, Lê Quý Đôn có hai hoài bão lớn: kinh bang tế thế và trƣớc thƣ lập ngôn. Với hoài bão thứ nhất, ông không đƣợc viên mãn và đến cuối đời vẫn còn ôm nỗi “bất đắc chí”. Nhƣng với hoài bão thứ hai, ông thật sự đƣợc phỉ chí và đã trở thành nhà bác học của Việt Nam. Trong lời đề tựa cho sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Tiến sĩ Bùi Danh Lâm – ngƣời cùng thời với ông viết: “Lê Quế Đƣờng ngƣời huyện Diên Hà không sách gì không đọc, không sự vật gì không suy xét đến cùng, ngày thƣờng ngẫm nghĩ đƣợc điều gì đều viết ngay thành sách…” Đối với Lê Quý Đôn, đọc sách và viết sách là cái sở trƣờng, cái ham mê và gần nhƣ là mục đích sống.
Ông không chỉ đọc Kinh, Thư, Sử, Truyện mà còn đọc cả Bách gia chư tử; không chỉ đọc sách của tiền nhân nƣớc ta mà còn đọc nhiều ngoại thƣ, kể cả thiên văn, địa lý, tử vi, thái ất, lục nhâm. Ông không chỉ đọc sách Trung Hoa mà còn đọc cả sách Tây phƣơng, nhƣ Khôn dƣ đồ thuyết – cuốn sách về địa lý của Ferdinandus Verbiest (1623 – 1688, một giáo sĩ Bỉ đến Trung Hoa đời Thuận Trị – nhà Thanh), đã đƣợc dịch sang Hán văn, khi ông đi sứ Yên Kinh (1761). Không chỉ đọc và học chữ, ông 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com còn học hỏi ở dân gian và biết kết hợp cái tƣ duy bác học với tri thức dân gian. Lê Quý Đôn thực sự là một con ngƣời “uyên bác” theo nghĩa đầy đủ nhất của hai chữ này ở thời đại của ông.
Với Lê Quý Đôn, di sản tác phẩm của ông là cả một khối đồ sộ đến 50 bộ sách, với hàng trăm quyển, gồm cả khoa học nhân văn lẫn khoa học tự nhiên. Ông là cây đại thụ rợp bóng trong lịch sử học thuật nƣớc nhà.