CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC 1. Phương pháp dạy học tích cực (dựa theo [15], [16], [17], [20], [21], [22], [23]) 1. Mô tả về phương pháp dạy học tích cực Chúng ta dùng thuật ngữ “Phương pháp dạy học tích cực” để chỉ những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Từ “tích cực” trong phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa hoạt động, chủ động. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học; nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học sao cho trong quá trình học tập, người học được hoạt động nhiều hơn, thảo luận cùng nhau nhiều hơn và quan trọng hơn là được suy nghĩ nhiều hơn. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực a) Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, trong quá trình học tập học sinh sẽ chủ động tham gia các hoạt động tìm hiểu, thảo luận, suy nghĩ. để chủ động tiếp thu tri thức chứ không phải lĩnh hội tri thức một cách thụ động.
Theo tinh thần này, giáo viên không cung cấp, áp đặt kiến thức có sẵn mà là người tổ chức và chỉ đạo HS tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn,. b) Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học của học sinh Triết lý giáo dục của thế kỷ 21 là “học suốt đời; học để biết; học để làm; học để cùng sống với nhau và học để làm người”. Vì vậy, phải biết cách tự học để tự bồi dưỡng cho mình tri thức mới. Phương pháp dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.
Giáo viên phải rèn luyện 11 cho HS có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học trong quá trình dạy học của mình. c) Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác. Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm “tạo điều kiện cho HS nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn”. Điều đó có nghĩa, mỗi HS vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới.
Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy – trò và trò – trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung. d) Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò. Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.
e) Tăng cường vận dụng thực hành (riêng với môn Toán, vì toán khá trừu tượng, nhiều người cho rằng khó vận dụng). Môn Toán được xem là một trong những môn học trừu tượng nhất trong các môn học ở THPT, bởi vì nội dung kiến thức trong đó đã lược bỏ đi các yếu tố riêng biệt của các hiện tượng, sự việc, chỉ giữ lại những cái căn bản nhất đúng cho các tất cả các hiện tượng. Bởi vậy để hiểu được nội dung bài học không có cách nào khác là phải tăng cường thực hành. Khi vận dụng vào thực tiễn sẽ giúp học sinh dễ hiểu hơn là dạy lý thuyết hàn lâm.
Chỉ có thông qua thực hành học sinh mới hiểu được rõ ràng hơn về mặt lý thuyết và ghi nhớ tri thức sâu sắc hơn. 12 Như vậy, có thể xem bồi dưỡng phương pháp tự học cho người học là một trong những nội dung không thể thiếu trong quá trình đổi mới PPDH nói chung và với môn Toán nói riêng. Học là gì Theo [40] thì: - Học hay còn gọi là học tập, học hành, học hỏi là quá trình tiếp thu cái mới hoặc bổ sung, trau dồi các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, giá trị, nhận thức hoặc sở thích và có thể liên quan đến việc tổng hợp các loại thông tin khác nhau. Khả năng học hỏi là sở hữu của loài người, một số động vật và một số loại máy móc nhất định.
Tiến bộ theo thời gian có xu hướng tiệm cận theo đường cong học tập. - Học tập cũng như việc học tập bài bản không bắt buộc, tùy theo hoàn cảnh. Nó không xảy ra cùng một lúc, nhưng xây dựng dựa trên và được định hình bởi những gì chúng ta đã biết. Học tập có thể được xem như một quá trình, chứ không phải là một tập hợp các kiến thức thực tế và các hủ tục giáo điều.
Việc học tập của con người có thể xảy ra như là một phần của giáo dục, đào tạo phát triển cá nhân. Chơi đùa đã được tiếp cận dưới một số nhà lý luận xem như là hình thức đầu tiên của việc học. Trẻ em thử nghiệm với thế giới, tìm hiểu các quy tắc, và học cách tương tác thông qua chơi đùa. Tự học là gì (tham khảo [11], [36], [37]) Tự học là một trong những khái niệm được nhiều tác giả định nghĩa, mô tả; chẳng hạn: - Tự: Từ dùng để chỉ bản thân chủ thể nhằm biểu thị chủ thể đồng thời cũng chính là khách thể chịu sự chi phối của hành động, hoạt động do mình làm hoặc gây ra (http://tratu.vn/dict, 23h00 ngày 02/09/2018) - Theo (Từ điển TV) thì: Học là thu nhận kiến thức, luyện tập kĩ năng do người khác truyền lại.
13 - Theo Từ điển bách khoa Việt Nam tập 2 [tr. 345, Từ điển bách khoa Việt Nam tập 2] thì: HỌC TẬP ở động vật bậc cao, là sự quan sát, nhận thức và bắt chước, cũng có thể được thực hiện dưới hình thức huấn luyện, giáo dục, truyền đạt từ phía bố mẹ. Ở xã hội loài người, HT là hoạt động nhận thức có hai chức năng xã hội cơ bản: 1) Giúp con người tiếp thu những nội dung và phương thức nhận thức được khái quát hóa dưới dạng các tri thức, phương pháp, kĩ năng, kĩ xảo. tạo ra và phát triển phẩm chất, năng lực của con người kết tinh trong đó.
Làm cho tâm lí và nhân cách của họ hình thành và phát triển; 2) Giúp cho thế hệ đang lớn lên gia nhập vào xã hội, lĩnh hội được những được những chuẩn mực giá trị của nó. HT được một hệ thống động cơ thúc đẩy, nhưng cơ bản nhất là hứng thú nhận thức. Hình thành được động cơ này là một quá trình, trong đó mỗi lần thực hiện xong một nhiệm vụ học tập, người học sẽ giải quyết được một mục đích cụ thể, các mục đích này hợp thành một hệ thống xoay quanh động cơ nhận thức cơ bản. HT là quá trình ghi nhớ có sự tham gia của nhiều chuỗi nơ ron khác nhau, tham gia của các cơ chế thần kinh cơ bản khác nhau.
HT ở người và thú không hoàn toàn phụ thuộc vào chức năng của vỏ bán cầu đại não mà quá trình này liên quan đến nhiều vùng rộng lớn trong não bộ, trong đó có vùng hipothalamua (đồi hải mã). - Theo nhà tâm lý học N.Arubakin: Tự tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học. Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể. - Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, cho rằng “ Tự học là việc hoàn thành các nhiệm vụ khác không nằm trong các tổ chức giảng dạy”.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng: “Tự học là cách học tự động” và“phải biết tự động học tập”. Theo Người: “tự động học tập” tức là tự học một 14 cách hoàn toàn chủ động, tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động lên kế hoạch cho mình, rồi tự mình tiến hành các bước triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tích cực , tự mình làm chủ thời gian để học và tự kiểm tra đánh giá kết quả việc học của mình. - Theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cá nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi .) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. - Giáo sư Thái Duy Tuyên khẳng định: “Tự học là một hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp.) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay nhưng kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”., chúng ta thấy những điểm chung của tự học là sự tự giác, chủ động và độc lập của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Bản chất của sự tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập như: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, giao tiếp, thực hành, kiểm tra, đánh giá. để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập và mục đích đã đề ra. Tự học của học sinh THPT mang đầy đủ các đặc điểm của tự học nói chung đồng thời cũng phản ánh đặc trưng riêng của hoạt động học tập ở phổ thông là tính tự chủ và nghiên cứu vừa sức.