Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Vận dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Tổng quan về phƣơng pháp dạy học theo nhóm nhỏ theo hƣớng phát triển năng lực hợp tác 1. Các nghiên cứu trên thế giới về dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác Ở nhiều nước trên thế giới, nghiên cứu vận dụng phương pháp DHTNN vào quá trình dạy học đã được quan tâm từ rất sớm. Nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục đã có những cách tiếp cận khác nhau về phương pháp dạy học này. Ngay từ thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian nhà Giáo dục học người Tây Ban Nha cho rằng HS sẽ có rất lợi nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu.
Đến thế kỷ thứ XVII, Jan Amos Komenxky (1592 - 1670) nhà Triết học người Séc tin rằng HS sẽ học tốt từ việc dạy cho bạn bè và học từ bạn bè của mình. Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Reverend Bebel và Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức DHTNN, họ chia HS thành từng nhóm để hoạt động. Thông qua hoạt động nhóm, HS cùng nhau trao đổi, chia sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu được kết quả học tập tốt hơn. Ý tưởng này được nhanh chóng đưa từ Anh sang Mỹ và đã nhận được sự hưởng ứng, phát triển rộng rãi bởi những nhà giáo dục tiên phong như John Dewey, Roger Parker, Morton Deutch.
Họ đề cao khía cạnh xã hội của việc học tập và cũng nâng cao vai trò của nhà giáo trong việc giáo dục HS một cách dân chủ. Dewey cho rằng muốn học cách cùng chung sống trong xã hội thì HS phải được trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác ngay từ trong nhà trường. Cuộc sống trong lớp học là quá trình dân chủ hoá trong một thế giới vi mô và học tập phải có sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học [36, tr. Trong thời gian từ năm 1930 đến 1940, nhà Tâm lí học xã hội Kurt Lewin đã nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân chủ.
Ông quan tâm đến cách cư xử của mỗi thành viên trong nhóm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và xây dựng lý thuyết cơ sở về học tập hợp tác. Sau đó, Morton Deutsch đã phát triển lí luận về hợp tác và cạnh tranh trên cơ sở “Những lí luận nền tảng” của Lewin. Năm 1940, Morton Deutsch đưa ra lí thuyết về các tình huống hợp tác và cạnh tranh [35, tr. Các nghiên cứu gắn liền tên tuổi các nhà nghiên cứu với các kỹ thuật dạy học hợp tác nổi tiếng dựa trên cơ sở lý luận và TN được ứng dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới như: Kỹ thuật Puzzle Jigsaw (Aronson et al, 1978; Aronson, 2000), kỹ thuật Xung đột sáng tạo và thủ tục tranh cãi (Johnson & Smith, 1987), kỹ thuật Nhóm điều tra (aran & aran, 1992), kỹ thuật Stad (Đội sinh viên và cách chia thành tựu), kỹ thuật TGT (Trò chơi giải đấu), kỹ thuật TAI (Hướng dẫn đội chơi tăng tốc), kỹ thuật CIRC (Đọc hợp tác tích hợp và các thành phần), kỹ thuật DEC (Phản biện tiểu luận cặp đôi, Millis & Cottell năm 1998 và Millis erman & Cottell, 1993), kỹ thuật STP (Dự án đội sinh viên, erman & Woy-Hazelton, 1988), kỹ thuật Chỉ dẫn phức tạp (Cohen, 1994).
Slavin (1995) đã mô tả và hướng dẫn thực hiện các kỹ thuật này trong các trường học [dẫn theo 37, tr.194] Vào năm 2005, trong tài liệu hội thảo tập huấn: “Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới” thuộc dự án phát triển giáo dục THPT của Hà Nội, GS. Bernd Meier và TS. Nguyễn Văn Cường đã trình bày chi tiết về những nội dung cơ bản về phát triển năng lực. Trong tài liệu gồm có 4 phần: Phần 1 - Một số cơ sở của dạy và học trong xã hội tri thức: trình bày về lý thuyết phát triển năng lực, mô hình cấu trúc của năng lực và khái niệm học tập theo lý thuyết năng lực; Phần 2 – Dạy và học với phương pháp dạy học mới: trình bày về các kĩ thuật và phương pháp dạy học mới gồm dạy học giải quyết vấn đề, dạy học tình huống và dạy học dự án nhằm phát triển năng lực cho HS trong quá trình dạy và học; Phần 3 – Dạy và học với phương tiện dạy học mới: trình bày về khái niệm về phương tiện, một số phương tiện dạy học mới để hỗ trợ quá trình dạy học với mục tiêu phát 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển năng lực, đặc biệt là phương tiện điện tử (e –learning); Phần 4 - Chất lượng dạy học và chuẩn giáo dục: nêu những tiêu chuẩn để đánh giá một giờ học tốt và chuẩn giáo dục [1].
Các nghiên cứu ở Việt Nam về dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác Ở Việt Nam, tư tưởng học tập theo nhóm cũng đã có từ rất lâu đời, ông cha ta có câu “học thầy không tày học bạn”, điều này cho thấy lợi ích của việc học tập từ bạn bè. Học tập theo nhóm có nhiều hình thức khác nhau, nhóm sinh hoạt câu lạc bộ hay nhóm tự quản hoặc nhóm đôi bạn cùng tiến. Tuy nhiên, thời gian đó học tập hợp tác là phong trào tự phát, chưa có cơ sở khoa học vững chắc nên dần dần lắng xuống. Đến những năm cuối của thế kỷ XX, đổi mới phương pháp giảng dạy học để phù hợp với xu thế trở thành nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục.
Các nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực nói riêng được nghiên cứu rất kỹ về lý thuyết được ra đời như : Tác giả Đặng Thành Hưng (2002) trong cuốn “Dạy học hiện đại - lý luận, biện pháp, kỹ thuật”, đã khái quát các công trình nghiên cứu của Slavin R. đồng thời đưa ra khái niệm nhóm hợp tác so sánh với kiểu học tranh đua và học cá nhân, chỉ ra tầm quan trọng kỹ năng học tập hợp tác và các nguyên tắc đảm bảo cho dạy học hợp tác thành công [20]. Tiếp đến trong một số bài báo của chính tác giả như: “Hệ thống kĩ năng học tập hiện đại” [21], “Kỹ năng dạy học và tiêu chí đánh giá" [22], “Nhận diện và đánh giá kĩ năng” [23]., tác giả đã chỉ ra hệ thống các kỹ năng học tập trong môi trường hiện đại. Thông qua hệ thống kỹ năng học tập, tác giả cho thấy học tập chính là thiết lập các mối quan hệ tích cực, cùng nhau chia sẻ và giải quyết các vấn đề.
Đây chính là những kỹ năng học tập được tác giả nhận diện trong môi trường học tập hiện đại. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả Ngô Thị Thu Dung (2002), “Cơ sở khoa học của việc rèn kỹ năng học theo nhóm cho HS tiểu học bằng phương pháp dạy học theo nhóm”, đã dựa trên cách tiếp cận hoạt động, quan sát quá trình học hợp tác nhóm của HS tiểu học đã đưa ra 18 kỹ năng hợp tác cần rèn luyện [3]. Tác giả Trần Bá Hoành (2006), “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” đã cho thấy dạy học theo nhóm vừa phát huy tích cực của mỗi HS vừa phát triển tình bạn. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh “Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia ; NLHT phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho HS” [17].
Phó Giáo sư Mai Văn Hưng (2015) , “Bàn về năng lực chung và chuẩn đầu ra về năng lực của HS THPT trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015”, đã nêu khái niệm năng lực, những năng lực chung và năng lực riêng, đồng thời đề xuất hình thức đánh giá của một số năng lực [24]. Đặc biệt, tác giả Lê Đình Trung – Phan Thị Thanh Hội (2016), trong cuốn “Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông”, đã trình bày rất chi tiết về những nội dung cơ bản về dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông. Trong tài liệu gồm có 3 phần: Phần 1 - Một số vấn đề chung về hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, trình bày khái quát về năng lực và dạy học tiếp cận năng lực ; hệ thống năng lực chung và năng lực chuyên biệt được hình thành và phát triển cho người học ở trường phổ thông trung học. Phần 2 – Định hướng dạy học theo tiếp cận năng lực ở trường phổ thông trung học, trình bày dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học và chỉ rõ các biện pháp hình thành và phát triển năng lực người học trong dạy học; Phần 3 – Kiểm tra đánh giá theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học, trình bày một số vấn đề chung về kiểm tra đánh giá và quy trình đánh giá người học theo định hướng hình thành và phát trát triển năng lực [32].
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong những năm gần đây, vấn đề phát triển năng lực học tập cho HS trong dạy HS học đã thu hút được khá nhiều tác giả tập trung nghiên cứu. Các luận án Tiến sỹ của các tác giả: Nguyễn Triệu Sơn (2007) “Phát triển khả năng học hợp tác cho sinh viên sư phạm Toán một số trường đại học miền núi nhằm nâng cao chất lượng của người được đào tạo”, đã đề xuất biện phát phát triển khả năng học hợp tác cho sinh viên sư phạm Toán ở một số trường đại học miền núi [28]; Nguyễn Thành Kỉnh (2010) “Phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên THCS”, đã nghiên cứu bản chất của dạy học hợp tác và đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho GV THCS thông qua hoạt động bồi dưỡng chuyên môn [25]; Nguyễn Thị Quỳnh Phương (2012) "Rèn luyện kỹ năng học hợp tác cho sinh viên ĐHSP trong hoạt động nhóm" [27] và Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2011) "Kỹ năng học hợp tác của sinh viên sư phạm" [12], Nguyễn Thị Thanh (2013), Dạy học theo hướng phát triển kỹ năng học tập hợp tác cho sinh viên Đại học sư phạm [33],.