mở đầu. * Thành tố thứ tư (âm chính): có chức năng quy định âm sắc chủ yếu của âm tiết, là hạt nhân của âm tiết. * Thanh tố cuối cùng (âm cuối) có chức năng kết thúc âm tiết. Cách kết thúc khác nhau làm thay đổi âm sắc của âm tiết và có tác dụng khu biệt âm tiết này với âm tiết khác”.
Thanh điệu Van Âm đầu |Amdém | Amchinh | Am cudi So dé 1. Cau tric am tiét tieng Viét 11 Ứng với 5 thành tố trên, hệ thống ngữ âm tiếng Việt gồm có: eHé théng thanh diéu: gồm 6 thanh: ngang, huyền (-), hỏi (?), ngã (~ ), sac (/), nang (. 5 Hệ thống âm đầu gồm 21 phụ âm: /£, t, {, c, k, b, d, m,n, p, , f, s, $, x h, v, Zy ZY; V/. - Âm đệm: đo âm vị bán nguyên âm /-w/ đảm nhiệm.
« Hệ thống âm chính gồm 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi đảm nhiệm: ñ, ©, £, Y, YY, a, UL, A, U, 0, 9, 9°, 6`, 1€, uI, uo/ » Hệ thống âm cuối gồm 8 âm vị, trong đó có 2 bán nguyên âm /-w, -j/. và 6 phụ âm /p, t, k, m, n, 0 /. Đặc điểm chữ viết tiếng Việt 1.1 Khái niệm Ngôn ngữ trước hết là ngôn ngữ truyền đạt bằng cách phát âm thanh, tức là ngôn ngữ thành tiếng. Tuy nhiên, khi nhu cầu giao tiếp trải rộng về không gian và kéo dài về thời gian nảy sinh, con người nhận thức rằng cần phải cỗ định hóa âm thanh để truyền đạt những kiến thức quan trọng như kinh nghiệm sản xuất, truyền thống, đạo lý, và những hiểu biết về một thời kỳ nào đó.
Vì vậy, chữ viết ra đời như một phương tiện đề lap đầy khoảng trống giới hạn của không gian và thời gian trong quá trình giao tiếp. Quá trình tìm kiếm phương tiện cố định hóa âm thanh kéo dài rất lâu, bắt đầu từ việc sử dụng hình vẽ, kí hiệu, và sau đó phát triển thành những biểu hiện đồ họa đơn giản và phức tạp của chữ viết. Ngữ âm học tiếng Việt định nghĩa: “Chữ viết là một hệ thống kí hiệu bằng đường nét để ghi lại ngôn ngữ thành tiếng” [49, tr. Tác giả Võ Xuân Hào cũng cho rằng: “Chữ viết là một hệ thống kí hiệu thị giác dùng để ghi lại âm thanh của ngôn ngữ” [17, tr.
Như vậy, có thể hiểu chữ viết là hệ thống các ký hiệu ghi lại ngôn ngữ theo dang văn bản, là sự miêu tả ngôn ngữ thông qua việc sử dụng các ký hiệu hay các biểu tượng. Nó phân biệt với sự minh họa như các phác họa trong hang động hay các tranh vẽ, đây là các dạng ghi lại ngôn ngữ theo các phương tiện truyền đạt phi văn bản, ví dụ như các băng từ tính trong các đĩa âm thanh. Có nhiều loại hình chữ viết như chữ 12 viết ghi hình, chữ viết ghi ý, chữ viết ghi âm. Chữ viết tiếng Việt hiện đại thuộc loại hình chữ viết ghi âm, kiểu ghi âm âm vị.
Đặc điểm chữ viết tiếng Việt Chữ viết tiếng Việt (chữ Quốc ngữ) “được xây dựng dựa trên hệ thống chữ cái La tinh”. Day là một hệ thống chữ viết ghi âm, theo nguyên tắc ngữ âm học, tức là viết theo cách ngôn ngữ được phát âm. Bộ chữ này “được các cha có Dòng Tên đưa vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII và bao gồm tông cộng 26 ký tự” [40, tr.