mở đầu cho quá trình nhân lên của vi rút. Là thành phần protein chủ yếu của phức hợp RNP, chứa một 5 NP 56 101 1565 498 1000 trong các khàng nguyên đặc hiệu typ, phân biệt 3 typ cúm A,B,C. Phân tử có cấu trúc tetramer, thủy phân bằng protease, cho phép vi rút tiến qua lớp niêm mạc tới các tế bào của đƣờng hô hấp trong quá trình nhiễm trùng. 6 NA 50 087 1413 454 100 Loại bỏ phân tử axit sialic của phân tử HA từ các virion mới đƣợc tổng hợp, làm lộ HA ra ngoài, tăng khả năng nhiễm trùng.
M1: là kháng nguyên đặc hiệu M1 27 801 252 3000 typ, có chức năng ổn định vrrus, điều khiển hoạt tính ARN- 7 1027 protease và tham gia vào quá M2 11 010 97 20-60 trình lắp rắp vi rút (70%). Là protein không cấu trúc, kết NS1 26 815 230 20-60 thúc quá trình tổng hợp protein 8 890 130- của tế bào túc chủ, chỉ có trong NS2 14 216 121 tế bào nhiễm vi rút. 200 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đoạn ARN đơn của vi rút cúm C mã hóa cho protein liên kết haemaglutinin- esteraza (HEF) có chức năng gắn dính vào thụ thể (receptor), hoạt động hòa mạng của HA và phá hủy thụ thể của NA, trong khi ở vi rút cúm A và B những đặc tính do các đoạn gen riêng biệt mã hóa. Chiều dài của các đoạn gen và các protein mã hóa đƣợc liệt kê trong bảng trên.
Đoạn gen ngắn không mã hóa ở mỗi đầu bao gồm chuỗi 11-13 nucleotit tại đầu 5’ và 9-12 nucleotit tại đầu 3’ có tính ổn định cao hơn so với các đoạn gen khác và giống nhau ở cả 3 loại vi rút A, B và C [44]. Ba gen lớn nhất mã hóa cho các thành phần của ARN polymeraza PB1, PB2 và PA của vi rút A và vi rút cúm B, C [66]. Đoạn gen 1 và 2 đều dài 2341 nucleotit mã hóa cho protein PB2 gồm 759 axit amin và PB1 757 axit amin. Đoạn gen 3 dài 2233 nucleotit mã hóa cho protein PA có 716 axit amin.
NP là protein cấu trúc chính tạo thành RNP. NP còn là kháng nguyên đặc hiệu typ, khác nhau giữa vi rút cúm A, B và C. NP đƣợc đoạn ARN 5 dài 1565 nucleotit mã hóa [64]. NP chứa 498 axit amin và có trọng lƣợng phân tử 56.
NP của vi rút cúm B chứa 560 axit amin và tƣơng đồng 47% so với vi rút cúm A trong khi NP của vi rút cúm C có 565 axit amin và có một số vùng tƣơng đồng với vi rút cúm A và B [28]. Tên gọi của protein HA (hemagglutinin) xuất phát từ khả năng gây ngƣng kết hồng cầu của vi rút bằng cách gắn với các thụ thể đặc biệt có chứa axit sialic. HA có 3 vai trò quan trọng trong quá trình sao chép vi rút: 1. HA gắn với thụ thể có chứa axit sialic trên bề mặt tế bào và tạo thành sự gắn kết giữa vi rút và tế bào.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. HA chịu trách nhiệm cho sự xâm nhập của vi rút vào tế bào bằng cách gián tiếp tạo nên sự hòa mạng endocytose của vi rút và màng nội bào làm cho nucleocapsit vi rút giải phóng vào trong bào tƣơng. HA là kháng nguyên chính tạo nên kháng thể trung hòa và các vụ dịch cúm đều liên quan đến sự thay đổi cấu trúc kháng nguyên. Đoạn ARN 4 có chiều dài 1.778 nucleotit và mã hóa cho 562 đến 566 axit amin.
HA do đoạn ARN 4 mã hóa và đƣợc tổng hợp nên ribosom gắn màng và di chuyển vào lumen của lƣới nội chất (ER) tế bào bị nhiễm nhƣ là polypeptit đơn HA0 (trọng lƣợng phân tử 76. Phụ thuộc vào phân typ vi rút, loại tế bào chủ và điều kiện nuôi cấy HA tồn tại cả 2 dạng: Dạng tiền thân không phân tách HA0 hoặc dạng phân tách với hai chuỗi có cầu nối disulfit (HA1 có trọng lƣợng 47.000 dalton và HA2- 29. Quá trình phân tách là điều kiện quyết định để vi rút có khả năng lây nhiễm và do vậy liên quan đến độc tính và khả năng lây truyền [42]. HA chính là đoạn gen đầu tiên của vi rút cúm đƣợc xác định trình tự.
HA1 có từ 319 đến 326 axit amin và HA2 có từ 221 đến 222 axit amin. Tùy thuộc vào các phân typ HA, số lƣợng các axit amin bị phân tách giữa HA1 và HA2 là 1 đến 6. HA nguyên vẹn có thể tách chiết từ hạt virion vi rút cúm hoặc từ tế bào bị nhiễm bằng chất tẩy hòa tan màng, khi chất tẩy bị loại bỏ, vùng transmembrane kỵ nƣớc kết hợp lại và tạo thành HA hình hoa thị. Tuy nhiên, xử lý vi rút bằng promelin sẽ giải phóng ra HA bảo toàn tính kháng nguyên và cấu trúc ba chiều, có khả năng hòa tan trong nƣớc và chứa toàn bộ HA1 cùng với 175 axit amin đầu tiên trong số 221 axit amin của HA2 [61].
Vị trí gắn thụ thể HA nằm ở vùng ngoại biên của các tiểu đơn vị phân tử. Cấu trúc vị trí đó có tính đồng dạng cao giữa các phân typ (Tyr- 98, Tyr – 153, His – 183, Glu – 190, Leu – 194) [41, 63]. Bởi vì tính đặc hiệu gắn thụ thể khác nhau giữa khí quản ngƣời (α 2, 3) và khí quản lợn (α 2, 3 và α 2, 6), số lƣợng các phân tử có thể chuyển từ loài này sang loài khác và có thể bị giới hạn [18]. Sự phân tác HA0 thành HA1 và HA2 là cần thiết để chuyển dạng pH thấp và do vậy cần thiết đối với hoạt tính gây nhiễm của vi rút.
Những HA đó đều chứa chuỗi R-X-K-/R-R ở cầu nối peptit và đƣợc phân tách trong tế bào bằng furin, một 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com proteaza của mạng trans-Golgi [25, 43]. HA chỉ có arginnine đơn ở cầu nối peptit không bị phân tách khi nuôi cấy trên tế bào (trừ chủng A/WSN/33) nhƣng sẽ bị phân tách bởi tpypsin ngoại sinh. Khi nuôi cấy trên trứng gà có phôi, HA có arginine đơn ở cầu nối peptit sẽ bị phân tách do proteaza [25]. Nhiều nghiên cứu cho rằng vị trí phân tách có liên quan đến độc tính vi rút và chủng vi rút độc lực có chứa kiểu nhận biết furin trong khi chủng vi rút không độc lực chỉ chứa arginine đơn [22, 25, 42].
Tuy nhiên cũng có một số chủng cúm H5 không độc lực có vị trí nhận biết furin. Những chủng không độc lực này có chuỗi oligosaccharit ở gần vị trí phân tách, điều này có ảnh hƣởng đến hoạt tính của proteaza khi phân tách và chuỗi này không tìm thấy ở những chủng H5 độc lực [21, 22]. Trong các chủng vi rút cúm ngƣời chỉ có A/WSN/33 có khả năng nuôi cấy trên nhiều loại tế bào mà không cần có trypsin và các nghiên cứu về hệ gen đã cho thấy NA của WSN cần thiết cho sự phân tách HA của WSN. NA là glycoprotein thứ hai đặc hiệu cho phân typ của vi rút cúm A, B.
NA/PR/8/34 đoạn gen ARN 6 có 1413 nucleotit mã hóa cho 453 axit amin. Đoạn ARN thứ bảy mã hóa cho 2 protein M1 và M2. Đoạn có 1027 nucleotit mã hóa cho M1 có 252 axit amin, trọng lƣợng phân tử 27. M1 là kháng nguyên đặc hiệu typ của vi rút cúm và có tính ổn định giữa các phân typ của vi rút cúm và có tính ổn định giữa các phân typ [28].
Protein M2 có hoạt động kênh trao đổi ion nhờ hoạt hóa pH. Kênh này đƣợc chặn đặc hiệu bởi thuốc kháng vi rút cúm amantadin. Hoạt động của kênh ion cần thiết cho việc bỏ lớp ngoài của vi rút trong khoang nội bào của tế bào bị nhiễm. Đột biến của vùng M2 liên quan đến việc kháng amantadin [16].
Đoạn ARN 8 của vi rút cúm A, B và đoạn ARN 7 của vi rút cúm C mã hóa cho 2 loại protein NS1 và NS2. NS1 protein có trọng lƣợng phân tử 26. NS1 là protein đa chức năng trong chu trình sống của vi rút cúm. NS2 protein có trọng lƣợng phân tử 11.000 tồn tại trong virion (130-200 phân tử) và tạo thành phức hợp với M1.
Quá trình nhân lên của vi rút cúm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trƣớc hết gai H của vi rút gắn vào thụ thể có chứa axit neuraminic của tế bào chủ, rồi tiến hành nhập bào tạo endosom. Tiếp đó, xảy ra quá trình dung hợp giữa vỏ ngoài của vi rút với màng endosom. Điều này thực hiện đƣợc nhờ gai H chồi lên khi pH trong endosom thấp. Sau khi dung hợp ribonucleprotein và ARN- polymeraza chui vào tế bào chất.
Việc “cởi áo” làm hoạt hóa ARN- polymeraza của vi rút. Phân tử mARN đƣợc phiên mã trong nhân từ các chuỗi ARN khuôn đơn, (-) của vi rút khi sử dụng mồi là đoạn 10 – 13 nucleotit cắt ra tử đầu 5’ của mARN có gắn mũ của vật chủ, sau đó đƣợc gắn đuôi PolyA cũng lấy từ mARN của tế bào chủ. Enzym cắt mồi là endonucleaza do vi rút mang theo. Phân tử mARN mới hoàn thiện của vi rút ra khỏi nhân, vào tế bào chất để tiến hành sao chép genom trong nhân.
Kết quả quá trình phiên mã từ 8 đoạn ARN genom (-) tạo ra 10 phân tử mARN, bởi vì đoạn 7 và 8 mỗi đoạn phiên mã tạo ra 2 phân tử mARN. 6 phân tử (1 – 6) dịch mã cho ra 6 protein, còn 2 phân tử (7 – 8) do có 2 khung đọc nên mỗi phân tử tạo ra 2 phân tử protein. Điều này đƣợc thực hiện không phải do sử dụng mARN đa gen (polycistronic) thật sự nhƣ ở prokaryota, bởi vì riboxom ở eukaryote chỉ nhận diện bộ ba khởi đầu AUG nằm sát đầu 5’ của mARN. Nhƣ vậy từ 1 ARN đã cho ban đầu, chúng chỉ tạo ra đƣợc 1 protein.
Hai đoạn 7 và 8 tiến hành phiên mã cho ra 2 mARN có chiều dài đủ. Mỗi trƣờng hợp tổng hợp một loại protein bổ sung cho dịch mã từ mARN đã đƣợc chế biến nhờ bộ máy cắt ghép (splicing) của tế bào chủ. Giống nhƣ các gen chồng lớp, một lần nữa đây là ví dụ cho thấy các vi rút ARN đã tận dụng tối đa genom nhỏ bé của mình nhƣ thế nào. Khác với đa số vi rút ARN, protein cấu trúc sau khi đƣợc tổng hợp lại đƣợc chuyển vào nhân và quá trình lắp rắp ribonucleoprotein xảy ra trong nhân.
Các glycoprotein HA và NA đƣợc tổng hợp trên mạng lƣới nội chất hạt sau đó đƣợc di chuyển tới các vùng chuyên biệt trên màng sinh chất. Protein M cũng di chuyển đến màng và liên kết với màng nhờ gai HA và NA.