CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC BỐ TRÍ VỐN, CÔNG TÁC LẬP VÀ QUẢN LÝ TIẾN ĐỘ TRONG XÂY DỰNG 1. Tổng quan tình hình xây dựng trong nước nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng 1. Tổng quan tình hình hình xây dựng Việt Nam Trên thế giới, ngành Xây dựng luôn được coi là ngành kinh tế quan trọng, là bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân. Ở nhiều nước trên thế giới, trong bảng xếp hạng các ngành đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu sử dụng nhiều lao động của nền kinh tế, ta luôn thấy có tên ngành Xây dựng.
Ở Việt Nam cũng vậy, khi tổng kết bức tranh kinh tế toàn cảnh người ta thường chú ý tới ba chỉ số: Việc sử dụng đất đai, việc sử dụng lao động và sản lượng. Những số liệu thống kê chính thức trong nhiều năm đã cho phép chúng ta hình dung ra những nét cơ bản nhất của ngành Công nghiệp xây dựng. Tổng thể trong những năm trước đây, ngoại trừ những giai đoạn khủng hoảng kinh tế thì ngành công nghiệp xây dựng chiếm tỷ trọng khá lớn trong GDP của cả nước. Năm 2014 trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, tình hình kinh tế − xã hội trong nước thuận lợi hơn nhưng còn nhiều khó khăn thách thức tác động đến nền kinh tế nói chung và đến ngành xây dựng nói riêng.
Trước tình hình đó, Bộ xây dựng đã ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 01/NQ−CP của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế − xã hội, nghiêm túc triển khái đồng bộ các nhóm giải pháp của chính phủ liên quan đến các lĩnh vực của ngành. Trong đó tập chung cao độ hoàn thiện hệ thống các thể chế quản lý nhà nước theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch xây dựng; đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường công tác quản lý quản lý đầu tư xây dựng, kiểm soát phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch thực hiện chiến lược phát triển nhà ở Quốc gia, đặc biệt là nhà ở xã hội; đẩy mạnh cổ phần hóa và tái cơ cấu các doanh nghiệp Nhà nước. 5 Cụ thể, giá trị sản lượng ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2014 ước đạt 352.700 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, khu vực Nhà nước đạt 37,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,6%; khu vực ngoài Nhà nước 292,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 83%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 22,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 6,4%.
Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 157,1 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 51,9 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 101,2 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 42,5 nghìn tỷ đồng. Tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt 33,9%; tỷ lệ dân đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập chung đạt 79%; tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải đô thị đạt 84%. Tỉ lệ phủ kín quy hoạch xây dựng đô thị đạt 100%, quy hoạch phân khu chi tiết 1/2000 đạt khoảng trên 70%, quy hoạch chi tiết đạt khoảng trên 30%. Nhìn vào mạng lưới đô thị Việt Nam ngày nay phần nào thấy được vị trí quan trọng và sự lớn mạnh của ngành xây dựng trong nỗ lực suốt nửa thế kỷ qua để khẳng định vị trí của một nền kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hóa − hiện đại hóa đất nước.
Theo phân tích của các chuyên gia kinh tế thì hiện nay xây dựng vẫn đang là ngành có khả năng dẫn dắt nền kinh tế và đem lại nguồn thu nhập quốc dân rất lớn. Mạng lưới các đô thị quốc gia hiện nay được sắp xếp lại, mở rộng và phát triển hơn 770 đô thị trên cả nước, cùng với hơn 150 khu công nghiệp và khu kinh tế, đã góp phần quan trọng trong việc tạo động lực kinh tế − xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở cả hai khu vực đô thị và nông thôn. Ngành xây dựng đã huy động mọi nguồn vốn cho việc đầu tư và phát triển các khu đô thị mới nhằm tạo bước đột phá trong việc giải quyết nhu cầu bức xúc về nhà ở cho nhân dân đô thị. Số lượng các dự án phát triển nhà đô thị tăng nhanh với hơn 1500 dự án đã và đang được triển khai.
Hiện tại cả nước có khoảng trên 890 triệu m2 nhà ở trong đó đô thị có khoảng 260 triệu m2, bình quân mỗi năm tăng thêm 58 triệu m2 trong những năm gần đây. Trong lĩnh vực phát triển kết cấu tầng đô thị, bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, ngành đã đầu tư khoảng 2,2 tỷ USD cho hệ thống 6 thoát nước. Hiện nay đã có trên 300 dự án cấp nước được triển khai với công suất thiết kế đạt 4,2 triệu m3/ ngày đêm, đảm bảo cho 70% dân số đô thị được cấp nước sạch. Công nghiệp vật liệu xây dựng cũng đang hướng mạnh tới các sản phầm có chất lượng khoa học công nghệ cao, thay thế hàng nhập khẩu và tăng xuất khẩu.
Tốc độ tăng trưởng của ngành vật liệu xây dựng đạt trên 17% năm. Nhiều sản phẩn có chất lượng cao đã chiếm lĩnh thị trường trong nước và được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới. Tính đến đầu năm 2014 toàn ngành Xây dựng có 68.649 doanh nghiệp và hơn 2,283 triệu lao động. Bằng nỗ lực tiếp cận công nghệ mới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đã tự đảm đương hoặc nhận thầu hầu hết các công trình xây dựng quan trọng của quốc gia, nhiều công trình của các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.
Có thể kể đến các công trình lớn như nhà máy thủy điện Sơn La, nhà máy lọc dầu Dung Quất, dự án nhiệt điện Cà Mau, thủy điện Buôn Lốp, cầu Thủ Thiêm. Các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam cũng đã ghi dấu ấn trong lĩnh vực hợp tác với các nước trong khu vực về phát triển đô thị, thủy điện bằng việc góp vốn thành lập 2 công ty cổ phẩn để xúc tiến các hoạt động đầu tư tại Lào và Campuchia. Ngoài ra, Viện Quy hoạch đô thị − nông thôn đã và đang tích cực triển khai giúp đỡ Lào lập và điều chỉnh Quy hoạch xây dựng thủ đô Viên Chăn. Công cuộc đổi mới đất nước trong 20 năm qua đã thu được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa rất quan trọng.
Nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế − xã hội và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Chúng ta không thể không nhắc đến những đóng góp quan trọng và nổi bật của ngành xây dựng. Qua đó càng thấy rõ vai trò đi đầu của ngành xây dựng trong việc nâng cao kinh tế và phát triển đất nước. Tổng quan tình hình xây dựng tỉnh Tuyên Quang Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc, có diện tích tự nhiên là 5.868km2, dân số 727.
Tỉnh Tuyên Quang có 1 thành phố là thành phố Tuyên Quang và 6 huyện, gồm Chiêm Hóa, Hàm Yên, Na Hang, Sơn Dương, Yên Sơn, Lâm Bình. 7 Những năm qua, công tác quy hoạch, xây dựng vùng của tỉnh Tuyên Quang đã được chú trọng. Đồ án Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Tuyên Quang đến năm 2010 tầm nhìn đến năm 2020 đã được duyệt năm 2007. Hiện nay, tỉnh đang trong giai đoạn nghiên cứu lập nhiệm vụ Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Tuyên Quang đến năm 2030.
Các quy hoạch phân khu các phường trong thành phố Tuyên Quang cũng đã được lập và phê duyệt. Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang hiện nay có 7 đô thị, trong đó có 1 thành phố là đô thị loại III (TP Tuyên Quang ), 5 thị trấn là đô thị loại V (gồm Tân Yên, Vĩnh Lộc huyện Chiêm Hoá, Na Hang huyện Na Hang, Sơn Dương huyện Sơn Dương, Tân Bình huyện Yên Sơn). Hệ thống đô thị tại tỉnh Tuyên Quang phát triển chưa đồng đều, số lượng đô thị loại V chiếm 83,3%. Hiện thành phố Tuyên Quang đang là đô thị loại III và là thành phố trực thuộc tỉnh, xong còn một số tiêu chí chưa đạt tiêu chí đô thị loại III.
Đơn cử, thành phố chưa được đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải đô thị, rác thải đô thị mới được thu gom, chôn lấp, chưa được xử lý triệt để. Các thị trấn huyện lỵ chưa đạt một số tiêu chí là đô thị loại V như chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống đường giao thông đô thị, hệ thống thoát nước đô thị, xử lý nước thải đô thị. Tuyên Quang có nhiều khoáng sản làm vật liệu xây dựng như đá vôi, đất sét, cao lanh, đá xây dựng. Phát triển vật liệu xây dựng ở Tuyên Quang đáp ứng đủ nhu cầu cho xây dựng của toàn tỉnh.
Bên cạnh đó tỉnh cũng đang lên kế hoạch đề nghị Bộ xây dựng hỗ trợ đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng tại các khu công nghiệp để đáp ứng nhu cầu trong tỉnh đồng thời có khả năng cung ứng cho các tỉnh lân cận. Trong công cuộc phát triển kinh tế − xã hội, tỉnh đã chú trọng cải thiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút vốn đầu tư, tạo điều kiện sản xuất kinh doanh phát triển, trong đó hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản luôn được đặt lên hàng đầu. 8 Năm 2012, trong bối cảnh kinh tế nhiều khó khăn đã có những tác động không nhỏ đến hoạt động của ngành xây dựng tỉnh Tuyên Quang. Song với nỗ lực vượt qua khó khăn và thực hiện được một số quy hoạch quan trọng, như: Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh; quy hoạch xây dựng trung tâm huyện lỵ Lâm Bình; điều chỉnh quy hoạch trung tâm thị trấn Nà Hang.
Quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết xây dựng các dự án trọng điểm của tỉnh, gồm: Quy hoạch chi tiết mở rộng trường Cao đẳng Tuyên Quang; nâng cấp trường trung cấp Y Tuyên Quang; điều chỉnh quy hoạch xây dựng nhà máy đường Tuyên Quang; điều chỉnh quy hoạch xây dựng Nhà máy thủy điện Chiêm Hóa. Đặc biệt, ngành còn phối hợp với các ngành chức năng trong tỉnh thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới cho 129 xã trong tỉnh.