mở đầu truyền thống này bằng phép biện chứng của các antinomi; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 trong đó, mỗi antinomi là một mâu thuẫn biện chứng của hai phạm trù đối lập nhau. Đó là mâu thuẫn dẫn đến sự hình thành phạm trù thứ ba với tƣ cách là sự thống nhất của hai phạm trù đối lập. Theo Hêghen, tuy Cantơ đã dừng lại với kết quả phủ định trong phép biện chứng nhƣng thành tựu to lớn nhất của triết học phê phán của Cantơ là đã chú ý tới sự vận động biện chứng của tƣ duy, đã đánh vào chủ nghĩa giáo điều, bất động của siêu hình học duy lý [xem 24, tr. Việc Hêghen tiếp nối truyền thống này thể hiện khá rõ trong Bách khoa toàn thư các khoa học triết học [xem 85].
Trong triết học Hêghen, phạm trù phủ định biện chứng đƣợc hình thành từ những tƣ tƣởng của ông về mối quan hệ biện chứng giữa «sự quy định khẳng định» và «sự quy định phủ định». Mối quan hệ biện chứng này đƣợc xây dựng trên cơ sở xuất phát điểm của triết học Hêghen là sự thống nhất (và cũng là sự đồng nhất). Sự thống nhất trong triết học Hêghen không phải là một thể thống nhất chết. Với vai trò là «căn cứ», nó là « một thể thống nhất sống» [xem 40, tr.
«Một thể thống nhất sống» là một thể thống nhất hàm chứa mâu thuẫn biện chứng giữa «sự quy định khẳng định» và «sự quy định phủ định» cùng sự tự chuyển hóa của chúng. Sự tự chuyển hoá này khiến cho "thể thống nhất sống" bị phá vỡ. Khi đó, «sự quy định phủ định» vốn tồn tại "một cách che giấu" trong «sự quy định khẳng định» sẽ chuyển sang sự "tồn tại tự nó", tức là «sự quy định phủ định» sẽ trở thành một «sự quy định khẳng định» mới trong một thể thống nhất mới của quá trình "tƣ duy đang phản tƣ". Mối quan hệ biện chứng giữa «sự quy định khẳng định» và «sự quy định phủ định» cũng là cơ chế hoạt động của hệ thống bộ ba (còn đƣợc gọi là tam đoạn thức).
Hêghen trình bày phép biện chứng của sự phủ định qua cơ chế bộ ba ở nhiều nơi trong hệ thống triết học của ông. Hệ thống bộ ba gồm có chính đề, phản đề và hợp đề. Trong đó, chính đề là «sự quy định khẳng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 định» còn phản đề là «sự quy định phủ định» nhƣng giữa những sự quy định này không có sự phân biệt tuyệt đối. Trong quá trình tƣ duy phản tƣ, phản đề luôn có khuynh hƣớng phủ định chính đề – là cái khẳng định đầu tiên, tối sơ - để tự chuyển hoá thành một chính đề mới và hình thành nên một tƣơng quan khẳng định - phủ định mới.
Đây là một quá trình liên tục. Trong mối quan hệ biện chứng giữa chính đề và phản đề, thứ nhất, chính đề mới hoàn thành một chu trình của sự thống nhất (hay là một vòng khâu biện chứng) và là hợp đề của chính đề và phản đề đầu tiên; thứ hai, sở dĩ phản đề có thể phủ định đƣợc chính đề vì phản đề là tƣơng quan tồn tại của chính đề đó và là sự tồn tại dƣới dạng "che giấu" của chính đề mới; và thứ ba, sẽ không thể có một sự thống nhất mới, sẽ không thể có một sự phát triển (lôgíc) tiếp theo của khái niệm và tinh thần tuyệt đối nếu nhƣ phản đề phủ định chính đề dẫn đến một thể thống nhất chết, tức là một thể thống nhất không có khả năng tự phủ định sự tồn tại hiện có của nó, không có khả năng vƣợt quá nó, để tiến lên một trạng thái tồn tại mới có một trình độ phát triển cao hơn. Hợp đề với tính cách là sự thống nhất của chính đề và phản đề phải bao chứa đồng thời trong nó sự tƣơng đồng và sự khác biệt của chính đề và phản đề. Bao chứa ở đây có nghĩa là hoà hợp, hợp nhất chứ không phải là sắp đặt cùng nhau nhƣ một tổng số.
Vì vậy, thể thống nhất mới (khái niệm mới) sẽ có một trình độ mới và cao hơn về chất so với thể thống nhất cũ (khái niệm cũ). Theo Hêghen, hệ thống bộ ba là một kết cấu liên tục do hợp đề không phải là «một cái thứ ba yên tĩnh» [trích theo 40, tr.250] và mỗi sự thống nhất chỉ là kết quả của một vòng khâu biện chứng khẳng định - phủ định, hoàn thành một giai đoạn phát triển. Tƣ tƣởng của Hêghen về một kết cấu liên tục đã bộc lộ khá rõ tính cách mạng trong quan niệm của ông về sự phát triển, về mối liên hệ giữa các sự thống nhất (hay các giai đoạn phát triển), đồng thời cũng cho thấy phần nào quan niệm của ông về cách thức và khuynh hƣớng của sự phát triển. Trong tƣ tƣởng của Hêghen về mối quan hệ biện chứng chính đề – phản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 đề, sự phủ định của phản đề với chính đề phải là một sự phủ định biện chứng.
Chỉ sự phủ định biện chứng mới có khả năng dẫn đến «một thể thống nhất sống», vì chính đề không bị phản đề tiêu diệt trong sự phủ định đó. Trong vấn đề sự thống nhất, những ƣu và khuyết điểm của triết học Hêghen đƣợc bộc lộ đầy đủ nhất. Với việc đặt ra và giải quyết vấn đề mối quan hệ biện chứng giữa khẳng định và phủ định, vấn đề hệ thống bộ ba và sự thống nhất, Hêghen đã cho thấy những tƣ tƣởng có tính cách mạng của ông về biện chứng của sự phủ định và vai trò của nó trong cách thức phát triển của khái niệm. Song, hạn chế của Hêghen là ở chỗ, ông chỉ quan tâm đến sự phát triển của tinh thần và cho rằng, sự phát triển của tinh thần tuyệt đối hay sự tha hoá của tinh thần tuyệt đối sẽ quy định tất cả những sự phát triển còn lại.
Tính cách mạng của Hêghen so với các bậc tiền bối của ông là ở cách thức của sự phát triển mà ông tìm ra. Tuy nhiên, trong thực tế, Hêghen luôn tuyệt đối hoá mức độ thứ ba của tinh thần tuyệt đối. Vì vậy, phƣơng pháp triết học tiến bộ và cách mạng dựa trên phép biện chứng của sự phủ định của Hêghen - phá vỡ tính hoàn thiện, tuyệt đích của chân lý tuyệt đối – khi bị ông đƣa vào phục vụ hệ thống triết học duy tâm (khách quan) lại trở thành một phƣơng pháp hƣớng về quá khứ, phủ nhận sự phát triển có tính cách mạng trong hiện tại và tƣơng lai. Chẳng hạn, Hêghen viết: "… mỗi bƣớc tiến lên trong sự vận động tiệm tiến, mỗi quy định tiếp theo, khi xa cái bắt đầu vô định cũng đồng thời là một bước quay trở lại gần cái bắt đầu ấy, thành thử cái gì lúc đầu có thể xuất hiện nhƣ là hai vật khác nhau, … về thực chất chỉ là một và cùng một sự vật" [trích theo 40, tr.
Do đó, ngƣời ta thƣờng cho rằng, phép biện chứng của Hêghen là một vòng tròn khép kín. Tuy hệ thống triết học của Hêghen là thần bí, tƣ biện và trừu tƣợng, tuy Hêghen đã sử dụng phƣơng pháp triết học có tính cách mạng của ông để xây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 dựng nên một hệ thống triết học bảo thủ nhƣng không ai có thể phủ nhận đƣợc rằng, Hêghen là một nhà biện chứng thiên tài. Ngƣời ta có thể thấy khá rõ điều đó qua nội dung và ý nghĩa của phạm trù aufheben (hay vẫn đƣợc gọi là phạm trù phủ định biện chứng) trong triết học Hêghen. Do mục đích và ý nghĩa của phạm trù này trong triết học Hêghen nên không ít ngƣời đã xem nó là một phạm trù – công cụ.Narxki còn cho rằng, nó là một trong các phạm trù – công cụ quan trọng nhất của lôgíc học Hêghen [xem 79, tr.Lênin khi tóm tắt Khoa học lôgíc đã ghi lại thực chất nội dung của phạm trù này nhƣ sau: Aufheben = ein Ende machen Aufbewahren [40, tr.
= erhalten ( zugleich ) Trong đó, aufheben vừa có nghĩa là bảo tồn, giữ gìn, duy trì (erhalten) vừa có nghĩa là bãi bỏ, thủ tiêu, kết thúc [xem 59, tr. Cả hai nghĩa này đều đồng thời tồn tại trong phạm trù phủ định biện chứng. Nói cách khác, chúng là hai mặt không tách rời của phạm trù đó. Theo Hêghen, phạm trù này vạch ra cách thức lôgíc của những sự thống nhất, cũng nhƣ cách thức để từ sự thống nhất cũ, thấp tiến lên sự thống nhất mới, cao hơn.
Đồng thời, nó vạch ra mối liên hệ giữa những sự thống nhất trong quá trình phát triển của tƣ duy. Trong sự vận động biện chứng của tƣ duy, chức năng của phạm trù – công cụ aufheben không chỉ là xoá bỏ sự xung đột (mâu thuẫn) giữa «sự quy định khẳng định» và «sự quy định phủ định» hoặc là bảo tồn (giữ gìn) những yếu tố chân lý trong «sự quy định khẳng định» và «sự quy định phủ định» mà còn là chuyển hoá sự xung đột đó sang, tiến lên một trình độ chân lý mới, cao hơn. Phủ định trong triết học biện chứng của Hêghen không chỉ là sự phủ định có bảo tồn và giữ lại nguyên vẹn những yếu tố chân lý trong cái bị phủ định mà nó còn là một sự lọc bỏ những yếu tố không còn giá trị, đồng thời cải tạo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 và nâng cao những yếu tố đã đƣợc giữ lại. Trong nội hàm phạm trù aufheben, sự phủ định (negation, verneinung) chỉ là một yếu tố thành phần.
Cho nên, phạm trù phủ định trong lôgíc biện chứng của Hêghen có nội dung khác căn bản với phạm trù phủ định trong lôgíc «hình thức thuần tuý của nhận thức» mà Hêghen phê phán. Do đó, chúng ta không thể đồng nhất yếu tố phủ định trong phạm trù aufheben với sự «phủ định lôgíc - hình thức». Trong hệ thống triết học của Hêghen, trong bất cứ vấn đề nào có sự phát triển (lôgíc) thì ở đó có sự tác động của phạm trù – công cụ aufheben nhƣ cái quyết định cấu trúc của tất cả các phát triển. Những tƣ tƣởng của Hêghen về mối quan hệ biện chứng giữa triết học và lịch sử triết học cũng thể hiện rõ mối quan hệ giữa phép biện chứng của sự phủ định và sự phát triển, nhất là trong những tƣ tƣởng của Hêghen về nguyên tắc lịch sử.