Bệnh chết héo keo tai tượng: Biện pháp phòng trừ tại Phú Lương, Thái Nguyên

Nghiên cứu toàn diện về bệnh chết héo keo tai tượng do nấm Phytophthora. Đề xuất các biện pháp phòng trừ hiệu quả dựa trên số liệu thực tế tại Thái Nguyên.

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Lâm nghiệp

2020

78
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Hiểu rõ bệnh chết héo Keo tai tượng do nấm Phytophthora cinnamomi

Bệnh chết héo Keo tai tượng là một trong những bệnh hại nguy hiểm nhất đối với cây keo tai tượng, gây ra bởi nấm Phytophthora cinnamomi. Bệnh này có khả năng phá hủy toàn bộ vườn trồng keo nếu không được phòng trừ kịp thời. Nấm gây bệnh tấn công hệ rễ của cây, làm cho rễ bị mục rữa, mất khả năng hấp thụ nước và dinh dưỡng. Kết quả là cây bị héo lụi, lá vàng xệ và cuối cùng chết khô. Tỷ lệ mắc bệnh có thể lên tới 40-60% tại các vườn ươm nếu không có biện pháp phòng chống. Những cây bị bệnh thường có những dấu hiệu rõ rệt như lõm bọt gốc cây, mủ thẩm thấu từ thân cây và mùi hôi khó chịu phát ra từ rễ.

1.1. Đặc điểm sinh học của nấm Phytophthora cinnamomi

Nấm P. cinnamomi là một loại nấm hoàng đế sống trong đất, có khả năng tồn tại lâu dài trong điều kiện không thuận lợi. Nấm phát triển mạnh mẽ trong môi trường ẩm ướt, đặc biệt là khi nhiệt độ từ 20-25°C. Sporangium của nấm có khả năng di chuyển trong đất và nước, dễ dàng lây lan từ cây này sang cây khác. Chu kỳ sống của nấm ngắn, chỉ khoảng 7-10 ngày trong điều kiện thích hợp.

1.2. Điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển

Độ ẩm cao là yếu tố chính thúc đẩy sự phát triển của nấm gây bệnh. Khi đất có độ ẩm trên 85%, nấm sinh trưởng nhanh chóng và xâm nhập vào rễ cây. Nhiệt độ từ 20-28°C cũng tạo điều kiện lý tưởng cho nấm phát triển. Ngoài ra, đất chua, kém thoát nước, và cây bị stress cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

II. Các biện pháp phòng trừ bệnh chết héo Keo tai tượng hiệu quả

Để phòng trừ bệnh chết héo keo tai tượng, cần áp dụng một hệ thống biện pháp toàn diện kết hợp giữa kỹ thuật canh tác, xử lý đất, và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Theo các nghiên cứu tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, việc kết hợp nhiều biện pháp cho kết quả hiệu quả nhất, với tỷ lệ ngăn chặn bệnh lên tới 85-90%. Không nên chỉ dựa vào một biện pháp duy nhất vì nấm có khả năng thích nghi cao. Các biện pháp phòng trừ bao gồm cải tạo đất, quản lý nước, sử dụng giống keo chống chịu, và ứng dụng các chế phẩm sinh học.

2.1. Cải tạo đất và quản lý nước tưới

Cải tạo đất bằng cách tăng thoát nước, trộn đất với cát thô, hoặc xây dựng các máng thoát nước giúp giảm độ ẩm đất. Quản lý nước tưới cần được thực hiện khoa học: tưới sáng sớm, tránh tưới chiều tối khi nhiệt độ còn cao. Hệ thống tưới nhỏ giọt hiệu quả hơn tưới phun vì không làm ẩm các phần trên của cây.

2.2. Sử dụng chế phẩm hóa học và sinh học

Thuốc trừ nấm như metalaxyl, fosetyl-Al có hiệu quả cao trong phòng trừ P. cinnamomi. Nên tưới phun hoặc tưới gốc định kỳ 10-14 ngày một lần. Chế phẩm sinh học từ các vi sinh vật hữu ích như Trichoderma, Bacillus cũng giúp ức chế nấm gây bệnh. Phối hợp giữa hóa học và sinh học cho kết quả tốt nhất và bền vững hơn.

III. Kỹ thuật canh tác chính trong phòng trừ bệnh

Kỹ thuật canh tác đóng vai trò quan trọng trong phòng trừ bệnh chết héo keo tai tượng. Việc lựa chọn địa điểm trồng, chuẩn bị vườn ươm, và chọn giống keo thích hợp là những yếu tố nền tảng. Theo các kết quả nghiên cứu, những vườn có quản lý canh tác tốt có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn 50% so với những vườn canh tác kém. Sử dụng giống keo tai tượng có sức chống chịu cao là một lựa chọn tốt, kết hợp với các biện pháp quản lý mật độ cây, tỉa cành để tạo thông thoáng.

3.1. Lựa chọn địa điểm và chuẩn bị đất

Chọn đất cao ráo, thoát nước tốt để trồng keo tai tượng, tránh vùng thấp trũng hay dễ ngập nước. Chuẩn bị đất bằng cách xới lâu sâu 30-40cm, trộn với compost và cát để cải thiện cấu trúc đất. Diệt trừ các loài cỏ dại có thể chứa nấm bệnh. Nên để đất thoát nước trước khi trồng ít nhất 2-3 tuần.

3.2. Quản lý vườn ươm và cách ly bệnh

Vườn ươm cần được cách ly hoàn toàn từ nguồn bệnh, đặt trên nền bê tông hoặc vải địa để ngăn chặn vi trùng từ đất. Thường xuyên kiểm tra cây, loại bỏ những cây bị bệnh để tránh lây lan. Sử dụng nước sạch từ giếng khoan hoặc nước mưa được lọc thay vì nước từ các nguồn có thể nhiễm bệnh.

IV. Kế hoạch giám sát và ứng phó với bệnh chết héo

Giám sát định kỳ là chìa khóa để phát hiện bệnh sớm và ứng phó kịp thời. Nên kiểm tra cây ít nhất 2 lần mỗi tuần, đặc biệt là vào mùa mưa khi bệnh dễ phát triển. Khi phát hiện cây bị bệnh, cần cách ly ngay và tiến hành xử lý để tránh lây lan cho cây khác. Các huyện như Phú Lương ở Thái Nguyên đã áp dụng mô hình giám sát này và đạt kết quả tốt với tỷ lệ kiểm soát bệnh trên 80%. Cần lập sổ theo dõi bệnh hại để có dữ liệu phục vụ cho việc điều chỉnh biện pháp phòng trừ.

4.1. Các dấu hiệu nhận biết cây bị bệnh sớm

Dấu hiệu đầu tiên là lá vàng, héo lụi mặc dù đất còn ẩm. Rễ cây bị sâu, mục rữa với mầu nâu đậm hoặc đen. Thân cây có lõm bọt nước ở gốc, mủ thẩm thấu ra ngoài. Mùi hôi lạ phát ra từ vùng rễ. Khi nhìn thấy những dấu hiệu này, cần xử lý ngay bằng cách chặt cây, đốt, hoặc xử lý chất thải đầy đủ để tránh lây lan.

4.2. Quy trình ứng phó khi phát hiện bệnh

Khi phát hiện cây bị bệnh, cách ly ngay vùng bị bệnh bằng cách chặt cây, không để lại gốc trong đất. Xử lý chất thải bằng cách đốt hoặc chôn sâu với vôi, tuyệt đối không để lây lan. Tưới thuốc preventive cho các cây xung quanh trong vòng 2 mét. Ghi chép chi tiết vị trí, thời gian phát hiện để theo dõi. Sau khi xử lý, cần vệ sinh dụng cụ bằng nước muối hoặc cồn trước khi sử dụng ở nơi khác.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về Keo tai tượng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) là loài cây sinh trưởng nhanh, thuộc nhóm loài cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt tới 30m, đường kính trên 60cm(MacDicken và Brewbaker,1984). Hoa lưỡng tính, tràng hoa màu kem, nhị nhiều vươn dài, hoa có mùi thơm,vị ngọt nhẹ.

Quả có màu xanh lá cây rộng 3-5mm dài 7-8 cm, lúc chín có màu đen. Quả non thẳng, sau đó quả xoăn lại bện vào nhau thành những bó không đều. Các hạt có màu nâu đen, sáng bóng hạt dài từ 3-5mm và rộng 2-3mm. Keo tai tượng có thân thẳng đẹp, rễ có nốt sần do cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium nên có khả năng cải tạo đất, song có nhược điểm là rễ nông, dễ bị đổ khi có gió bão (Racz, K.

và Zakaria Ibrahim, 1986);(Harwood, C.,1991); (Pinyopusarerk et al. Gỗ Keo tai tượng được dùng làm đồ nội thất, vật liệu xây dựng, nguyên liệu giấy, ván dăm, ván sàn, củi đun, than hoạt tính và mùn cưa có thể nuôi trồng nấm. Các tính chất cơ lý của gỗ Keo tai tượng tăng theo tuổi và biến động rất lớn giữa các cây. Gỗ Keo tai tượng có trọng lượng trung bình từ 420-600 kg/m3(MacDicken và Brewbaker, 1984), tỷ trọng trung bình từ 0,45-0,5 nhưng ở giai đoạn 12 tuổi có thể đạt 0,59.

Keo tai tượng 14 năm tuổi có tỷ trọng tăng từ lõi ra vùng giữa thân và giảm tới phần giác(Razali và Kuo, 1991). Phân bố và sinh thái: Keo tai tượng có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea (PNG) và Indonesia đã trở thành một loài cây được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới. Phân bố chủ yếu từ 190 vĩ Nam đến 240 vĩ Bắc, độ cao 6 100 - 780m trên mặt nước biển. Keo tai tượng phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới, lượng mưa trung bình từ 1446 – 2970 mm/năm song Keo tai tượng có thể chịu được ở điều kiện khô hạn 1000 mm/năm.

Keo tai tượng phù hợp với những nơi có nhiệt độ bình quân từ 25 - 320C, đất hơi chua thoát nước tốt, pH từ 4,5 - 6,5 (Pinyopusarerk et al. Hạt Keo tai tượng có khả năng nảy mầm tốt, hạt sau khi xử lý bằng nước sôi trong vòng 30 giây kích thích sự nảy mầm tốt, hạt có thể gieo trực tiếp vào bầu hoặc gieo vào khay đến khi thành cây con thì cấy vào bầu. Cây 3 tháng tuổi trong giai đoạn vườn ươm cao từ 25-40 cm(Srivastava, 1993). Keo tai tượng ở Philippines để lấy hạt khi bón phân lân tăng khả năng đậu quả (Manubag et al.

Keo tai tương có thể trồng với các mật độ khác nhau phụ thuộc vào mục đích kinh doanh và độ phì của đất. Trồng rừng để cung cấp gỗ với mật độ trung bình 1100 cây/ha (Srivastava, 1993). Nghiên cứu về bệnh hại Keo tai tượng Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng được công bố nhiều loại nấm bệnh gây hại các loài keo. Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia, họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964 nhiều đại biểu kể cả các tổ chức Quốc tế như CIFOR (Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế) cũng đã đề cập đến các vấn đề bệnh hại các loài Acacia là bệnh đốm lá do nấm Colletotrichum sp.

Bệnh phấn trắng thường hay bị đối với Keo tai tượng ở giai đoạn vườn ươm hoặc rừng trồng tuổi 1, nguyên nhân gây bệnh do thời tiết mưa ẩm kéo dài dẫn đến nấm bệnh phát triển (Hutacharem, 1993). Bệnh gỉ sắt, các bệnh hại lá xuất hiện nhiều vùng trồng Keo tai tượng trên toàn thế giới. Bệnh gỉ sắt do nấm Atelocauda digitata, bệnh phấn trắng do nấm Oidium sp., bệnh bồ hóng do nấm Meliola spp., bệnh đốm lá do các nấm Cercospora spp. và Colletotrichum spp., bệnh phấn hồng do nấm (Corticium salmonicolor) (Old et al., 1999; Old et al.

7 Tại Papua New Guinea bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) có bệnh khô cành ngọn hay còn gọi là chết ngược do loài nấm Glomerella cingulata (giai đoạn vô tính là Colletotrichum gloeosporioides đó là nguyên nhân chủ yếu gây thiệt hại trong vườn giống (Roger, 1954). Theo kết quả nghiên cứu của Mercer (1982); Sharma và đồng tác giả (1985) bệnh rỗng ruột gây hại ở Keo tai tượng và các loài keo nói chung nguyên nhân là do cây bị tổn thương hoặc do tỉa cành không đúng kỹ thuật, tỉa cành vào mùa mưa, nấm gây bệnh dễ xâm nhiễm. Bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. gây hại có triệu chứng như vỏ cây ở phần gốc và rễ lớn bị thối, gỗ bị biến màu (Ake et al., 1992; Wingfield et al.

Lần đầu tiên bệnh rỗng ruột được xác định ở Sabah (Gibson, 1981), có hầu hết những nước trồng Keo tai tượng như Malayxia (Mahmud et al., 1993) Bangladesh, papua New Gui, Thai lan và Việt Nam (Basak, 1997). Keo tai tượng hay bị một số bệnh như: Bệnh rỗng ruột thường bị ở các cây ở cấp tuổi cao hoặc do giống (Hutacharem, 1993). Bệnh chết héo được xác định do một số nấm gây hại: (1) Chết héo do nấm Phytophthora sp. gây hại, (2) Chết héo do nấm Ceratocystis sp.

Trong đó bệnh chết héo do nấm Phytophthora sp. có triệu chứng điển hình là hệ rễ cám bị thối (Kile, 1993). Trong khi đó bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. gây hại có triệu chứng điển hình là thân hoặc cành bị nứt, xì nhựa hoặc xì nước, vỏ và gỗ ở quanh vết bệnh bị biến màu.

Lee và Maziah (1993) đã phân lập được 25 nấm bào tử lấy từ Keo tai tượng bị bệnh mục ruột ở các địa điểm khác nhau tại Malaysia, giám định là do nấm Phellinus noxius, Trametes sp., và Formes sp. Cũng theo Lee và Maziah (1993) các loại bệnh này gây hại ở cây 2 năm tuổi trở đi và làm giảm 8 chất lượng và trọng lượng gỗ. Theo Zakaria và đồng tác giả (1994) bệnh mục ruột có xu hướng tăng dần theo tuổi cây Keo tai tượng, như ở Malaysia cây trồng ở 2 năm tuổi tỷ lệ bị hại là 57% và đối với cây trồng ở 8 năm tuổi tỷ lệ bị mục ruột lên đến 98%. Ở Indonesia nấm Ceratocystis spp.

gây bệnh cho nhiều loài cây trồng, trong đó nấm này gây hại nghiêm trọng ở rừng Keo tai tượng (Tarigan et al. Brawner và đồng tác giả (2015) xác định nấm C. acaciivora đã gây bệnh chết héo hàng vài chục nghìn ha Keo tai tượng tại Sabah, Malaysia. Bệnh gây chết Keo tai tượng tại Indonesia là do nấm Ceratocytis acaciivora; Tuy nhiên theo tác giả Fourie và đồng tác giả (2016) giám định lại tên khoa học của loài nấm này là C.

manginecans (Tarigan et al. Nấm Ceratocystis spp. được xác định là tác nhân gây bệnh nghiêm trọng trên nhiều loài cây trồng tại Indonexia, trong đó có rừng trồng các loài keo (Tarigan et al., 2010; Tarigan et al. Những năm gần đây, rừng trồng keo tại Indonexia xuất hiện một số loại bệnh gây hại nghiêm trọng trên diện rộng, trong đó có bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp.

gây ra (Hardiyanto, 2014; Yong et al., 2014) với hàng chục nghìn ha rừng bị chết trong những năm qua, gây tổn thất nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất lâm nghiệp của nước này Đặc điểm nhận biết của nấm Ceratocystis spp. gây hại keo đã được một số tác giả đã mô tả (Barnes et al, 2005); Tarigan và đồng tác giả (2010); Thu và đồng tác giả (2014), nấm Ceratocystis spp., bào tử có hình cầu hoặc gần cầu, có màu nâu đen, kích thước thể hình cầu dài từ 106 đến 288µm, ở phía đầu cổ có những sợi tua ra khi chuẩn bị phun bào tử; bào tử hữu tính hình mũ có chiều dài từ 4,5 đến 9,3µm, chiều rộng từ 2,0 đến 4,9µm; bào tử hữu tính hình mũ có chiều dài từ 11,0 đến 25,6µm và chiều rộng từ 1,6 đến 4,9µm; bào tử vô tính hình trống chiều dài từ 12,1 đến 25,5µm và có chiều rộng từ 9,2 đến 13,6µm. 9 Theo một số tác giả như Barnes và đồng tác giả (2005); Tarigan và đồng tác giả (2010); Harrington và Wingfield (1998) có một số kết quả bước đầu về nấm Ceratocystis spp. nuôi cấy thích hợp trong điều kiện nhiệt độ từ 25 đến 300C, độ ẩm từ 80 đến 90%.

Tarigan và đồng tác giả (2011) xác định nấm Ceratocystis acaciivora xâm nhiễm gây hại Keo tai tượng thông qua các công thức tỉa cành, xác định được khả năng tỉa cành làm ảnh hưởng đến cành làm cho tăng khả năng xâm nhiễm. Nấm Ceratocystis manginecans đã được xác định là loài nấm gây bệnh chết héo nghiêm trọng trên Keo tai tượng ở Indonesia (Fourie et al., 2014), đồng thời cũng chính là loài nấm gây bệnh chết héo Keo tai tượng tại Indonesia (Barnes và Wingfield, 2016). Bệnh chết héo do nấm C. acaciivora gây dịch hại rất nghiêm trọng tại Malaixia, đặc biệt là đối với rừng trồng Keo tai tượng.

Bệnh chết héo đã gây chết hàng nghìn ha Keo tai tượng tại phía Đông Sabah, Malaixia (Brawner et al. Các loài keo bị bệnh khô cành ngọn do nấm Colletotrichum sp. gây hại nên sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất chlorothalonil để phòng trừ (Bamard và Schroeder, 1984). Theo Chin (1990), bệnh phấn hồng ở Sarawak, Malayxia được phòng trừ hiệu quả bởi Perenox là một hợp chất hóa học có chứa đồng.

Lee (1993) bệnh phấn hồng có thể sử dụng phương pháp tuyển chọn trồng các giống cây có cơ chế kháng bệnh. Biện pháp phòng trừ bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. gây hại trên rừng trồng keo tại Indonexia đã được khuyến cáo nên áp dụng một số biện pháp chính như: không sử dụng hạt giống thu từ các cây mẹ nhiễm bệnh; Xây dựng các chương trình cải thiện giống kháng bệnh; Cải thiện chất lượng 10 vườn cây mẹ cung cấp vật liệu hom và thay đổi cơ cấu cây trồng sau mỗi luân kỳ (Yong et al. Các loài nấm Ceratocystis spp.

thường gây bệnh nguy hiểm trên nhiều cây chủ với một số bệnh điển hình như: bệnh thối rễ, thối gốc, loét thân cành và gây thối quả trên nhiều loài cây nhiệt đới (Kile, 1993). Loài Ceratocystis fimbriata gây chết héo hàng loạt rừng bạch đàn ở Cộng hòa Công gô (Roux et al., 2000); gây hại nghiêm trọng đối với cây Cà phê ở Colombia và Venezuela (Marin et al. fimbriata đã được xác định là tác nhân gây bệnh chết héo cây keo tại Nam Phi, loài nấm này cũng đồng thời là tác nhân gây bệnh nghiêm trọng trên nhiều loài cây khác trên thế giới (Ake et al., 1992; Wingfield et al. Ngoài ra, nhiều triệu chứng bệnh khác nhau đã được ghi nhận trên Keo đen tại Nam Phi như bệnh bồ hóng, nứt vỏ, chết ngược.

Trong số các sinh vật gây bệnh đã phân lập được, hai loài nấm Phytophthora parasitica và Ceratocystis albofundus gây bệnh nghêm trọng nhất (Jolanda và Wingfield, 1997). Bệnh chết héo do nấm C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ