Chương 1: Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong xây dựng nông thôn mới (2008 – 2013) Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2008 – 2013) Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI (2008 -2013) 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 1. Điều kiện tự nhiên Tỉnh Quảng Ninh là tỉnh miền núi, nằm ở tọa độ địa lý 210 – 220 40’ vĩ độ Bắc, 1060 26’ – 1080 31’ kinh độ Đông, cách Thủ đô Hà Nội 150 km. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc.
Quảng Ninh có đường biên giới đất liền 132 km từ Tràng Vĩ (Móng Cái) đến giáp huyện Đình Lập (Lạng Sơn); phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ với 250 km bờ biển kéo dài từ cửa Bắc Luân (Trà Cổ) đến đảo Cát Bà (Hải Phòng); phía Tây giáp thành phố Hải Phòng, tỉnh Hải Dương, tỉnh Bắc Giang và tỉnh Lạng Sơn. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 8.243 km2, trong đó, diện tích đất liền là 5.938 km2, vùng vịnh biển (nội thủy) là 2.853 km2, chiếm 1,8% diện tích cả nước. Quảng Ninh là tỉnh miền núi - duyên hải. Hơn 80% đất đai là đồi núi.
Hơn hai nghìn hòn đảo nổi trên mặt biển cũng đều là các quả núi. Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái. Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc - tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên.
Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều. Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Yên Hưng, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái.
Ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp. Đó là vùng nam Uông Bí, nam Yên Hưng (đảo Hà Nam), đông Yên Hưng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái. Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh. Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo.
Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ. Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú.
Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng.) Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m. Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng. Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển. Các quần đảo ở huyện Cô Tô và Vân Đồn. có đặc trưng của khí hậu đại dương. Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; một mùa đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất.
Do nằm trong vành đai nhiệt đới nên hàng năm có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh, tiềm năng về bức xạ và nhiệt độ rất phong phú. Ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoá thành hai mùa: mùa hạ nóng ẩm với mùa mưa, mùa đông lạnh với mùa khô. Về nhiệt độ: được xác định có mùa đông lạnh, nhiệt độ không khí trung bình ổn định dưới 20oC. Mùa nóng có nhiệt độ trung bình ổn định trên 25oC.
Về mưa: theo quy ước chung, thời kỳ có lượng mưa ổn định trên 100 mm là mùa mưa; còn mùa khô là mùa có lượng mưa tháng ổn định dưới 100 mm. Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh ở Quảng Ninh bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10. Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10. Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10).
Sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa đông (tháng 1) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa hạ (tháng 7) là 120C và thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng 1 theo tiêu chuẩn nhiệt độ cùng vĩ tuyến là 5,10C. Nhìn chung, khí hậu Quảng Ninh mát mẻ, ấm áp, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nhiều ngành kinh tế khác. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tỉnh Quảng Ninh có 589.957 ha diện tích đất tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp là 56.550ha, chiếm 9,58%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 228.682ha, chiếm 38,76%; diện tich đất chuyên dùng là 23.798ha, chiếm 4,03%; diện tích đất ở là 6.444ha, chiếm 1,09%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 274. Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 34.287 ha, chiếm 60,63%, riêng đất lúa chiếm 49,8%, gieo trồng hai vụ; diện tích đất trồng cây lâu năm là 5.563 ha, chiếm 9,8%; đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản là 12.
Diện tích đất trống đồi núi trọc cần phủ xanh là 195.559 ha; diện tích đất bằng chưa sử dụng là 26.968 ha; diện tích có mặt nước chưa sử dụng là 16. Tỉnh Quảng Ninh có 162 nghìn ha rừng, trong đó có 124 ha rừng tự nhiên. Một điều đặc biệt hơn là tất cả các địa phương trong tỉnh Quảng Ninh đều có rừng. Ngoài những khu rừng quý như đinh, lim, sếu, táu, sồi… thì ở các huyện, thị xã Quảng Ninh còn có nhiều khu rừng đặc sản có giá trị kinh tế cao, kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng.
Điển hình như huyện Bình Liều có tới ba loại cây đặc sản: quế, sồi, hồi. Hoa hồi và tinh dầu hồi là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao. Ngoài gỗ, rừng Quảng Ninh còn có nhiều chim thú rừng, đó là tắc kè, ba kích và các dược liệu có trá trị khác. Quảng Ninh là một tỉnh miền núi, hải đảo, là miền rừng vàng cũng là miền biển bạc.
Tỉnh có trên 6000 km2 bờ biển, thuận lợi cho khai thác thủy sản và duc lịch, nhiều ngư trường với nhiều loại thủy hải sản phong phú, trữ lượng có thể khai thác hàng năm 3-4 vạn tấn. Có thể nói, nguồn lợi thủy sản ở Quảng Ninh rất phong phú và đa dạng. Có rất nhiều giống loài có giá trị kinh tế cao, phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Trong tổng số 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 555 loài động vật vùng biển Quảng Ninh, có nhiều loài sản lượng lớn và giá trị kinh tế cao như: cá song, cá mú, cá hồng, vược… Nguồn lợi nhuyễn thể như bào ngư, hàu, trai, sò, ngán, tu hài… phát triển tập trung ở vùng bãi triều ven biển và quanh các đảo.
Về nguồn lợi giáp xác, giống loài phong phú và nhiều loài có giá trị cao như tôm he, cua biển, ghẹ xanh. Ngoài ra biển Quảng Ninh còn có nhiều hải sản quý hiếm có giá trị dinh dưỡng cao như cá ghim, sá sùng, hải sâm. Điều kiện kinh tế - xã hội Quảng Ninh là tỉnh có vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh), được xem như một phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế phía Bắc. Hướng phát triển của Quảng Ninh được chính phủ xác đinh: Hình thành các trung tâm lớn có ý nghĩa tới vùng và giao lưu quốc tế, hỗ trợ cho các tỉnh Nam vùng đồng bằng sông Hồng, hình thành các trung tâm công nghiệp lớn, phát triển các ngành công nghiệp cao thuộc các lĩnh vực điện tử, tin học, sản xuất vật liệu mới, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến thực phẩm, kinh tế cảng biển và đi đầu trong hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài.
Để phát triển kinh tế, xã hội, Quảng Ninh đã tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp – xây dựng, dịch vụ - du lịch theo hướng CNH, HĐH và giảm dần tỷ trọng các ngành nông – lâm – ngư nghiệp. Nhờ đó mà tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh ngày càng khởi sắc. Tốc độ tăng GDP năm 2005 là 12,5%, năm 2006 là 13% và năm 2007 tăng 13,17%. Trong đó, nông – lâm – ngư nghiệp tăng 3,8%, công nghiệp - xây dựng tăng 18%, dịch vụ tăng 11%.
GDP bình quân đầu người đạt 1.