Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lí công tác giáo dục phòng ngừa xâm hại tình dục 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài về giáo dục phòng ngừa xâm hại tình dục Vấn đề giáo dục phòng ngừa xâm hại tình dục cho học sinh được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ lâu. Có thể kể đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này dưới đây.
Lee và cộng sự (2016) đã phân tích sự tác động của chương trình giáo dục phòng chống xâm hại tình dục liên quan đến sự phát triển thể chất và tâm lý ở trẻ đối với kiến thức và thái độ về phòng ngừa xâm hại tình dục. Đối tượng tham gia là học sinh tiểu học lớp 5 và lớp 6 ở thành phố S, Hàn Quốc. Nhóm thực nghiệm được giáo dục phòng chống xâm hại tình dục gắn kết phát triển thể chất và tâm lý, 6 buổi (3 buổi là giáo dục phát triển thể chất và tâm lý và 3 buổi khác là giáo dục phòng chống xâm hại tình dục). Nhóm so sánh được giáo dục phòng chống xâm hại tình dục, 3 buổi (cùng chương trình học của nhóm thực nghiệm).
Nhóm đối chứng không được giáo dục về giới tính. Kết quả cho thấy, nhóm thực nghiệm có kiến thức và thái độ tình dục tốt hơn đáng kể so với nhóm đối chứng và so sánh. Các tác giả kết luận rằng, chương trình giáo dục phòng chống xâm hại tình dục gắn kết phát triển thể chất và tâm lý là cần thiết cho học sinh tiểu học, nhằm nâng cao kiến thức và thái độ về tình dục [40]. Nghiên cứu của Walsh và các cộng sự (2019) đã phân tích, đánh giá các chương trình giáo dục phòng ngừa xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chương trình ít đề cập đến nội dung như an toàn trong việc sử dụng công nghệ và các chiến lược của thủ phạm gây nên xâm hại tình dục. Các tác giả cũng đề xuất các khuyến nghị nhằm cải thiện các chương trình phòng ngừa xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học tại địa bàn nghiên cứu [42]. Wulandari và các cộng sự (2021) đã phân tích ảnh hưởng của Chương trình Phòng chống lạm dụng tình dục trẻ em tại trường học (Chương trình Prevensi Pelecehan Seksual Berbasis Sekolah (P3SBS)) đối với khả năng tự bảo vệ mình khỏi bị xâm hại tình dục của học sinh tiểu học lớp một. Nghiên cứu được thực hiện tại hai trường tiểu học ở Surakarta, Indonesia.
Thử nghiệm trước và sau thử nghiệm của nhóm đối chứng được thiết kế để kiểm tra tính hiệu quả của P3SBS. Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm P3SBS và nhóm chứng về khả năng tự bảo vệ bản thân của trẻ em khỏi bị xâm hại tình dục. Những kết quả này cho thấy P3SBS có hiệu quả trong việc nâng cao khả năng tự bảo vệ của trẻ em khỏi bị xâm hại tình dục [44]. Nghiên cứu của Wu và các cộng sự (2021) đã tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành giáo dục về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em (CSA) trong giáo 2 viên tiểu học ở một thành phố thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhìn chung, giáo viên tiểu học đã có thái độ tích cực đối với việc phòng ngừa CSA, nhưng kiến thức và thực hành giáo dục của họ về phòng ngừa CSA còn hạn chế [43]. Solehati và các cộng sự (2022), xem xét tác động của việc giáo dục phòng ngừa xâm hại tình dục bằng video và bài hát đối với kiến thức và thái độ của học sinh tiểu học. Các can thiệp bằng video và bài hát có khả năng cải thiện kiến thức và thái độ của học sinh về phòng ngừa xâm hại tình dục [41]. Các nghiên cứu trong nước về giáo dục phòng ngừa xâm hại tình dục Trên thế giới, các nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề xâm hại tình dục từ rất sớm, nhưng tại Việt Nam, vấn đề này chỉ mới được quan tâm trong khoảng thập niên trở lại đây.
Các nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở các khảo sát nhằm làm rõ trải nghiệm của người dân với vấn đề liên quan đến xâm hại tình dục, những thách thức trong việc phòng ngừa và ứng phó với xâm hại tình dục. Trong khuôn khổ Chương trình toàn cầu Thành phố an toàn không có bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái (viết tắt là SCGP) thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, xâm hại tình dục bao gồm những nhận xét, chú ý, các hành động hoặc cử chỉ có tính gợi dục không mong đợi ở người tiếp nhận. Cũng như với các hình thức bạo lực tình dục khác, thành tố chính của xâm hại tình dục là việc người nào đó thực hiện những hành động này không có sự đồng thuận, cho phép, hoặc đồng ý của một người hoặc những người thuộc đối tượng đích. Xâm hại tình dục bao gồm những hình thức không tiếp xúc như: nhận xét dục tính về bộ phận cơ thể hoặc hình dáng bề ngoài của một người, huýt sáo khi một phụ nữ hoặc bé gái đi ngang qua, đòi hỏi tình dục, ánh mắt gợi dục đi kèm, lén đi theo, ép bộ phận sinh dục vào người nào đó.
Xâm hại tình dục cũng bao gồm những hình thức tiếp xúc thân thể như, cố tình chạm vào người khác trên đường phố hoặc trên phương tiện giao thông công cộng, túm lấy, cấu véo, tát, hoặc cọ người vào người khác một cách dục tính. Một số yếu tố của xâm hại tình dục có thể đã được đề cập đến trong bộ luật hình sự, tuy nhiên, nhiều yếu tố khác đòi hỏi xử lý dân sự, các biện pháp giáo dục hoặc xử phạt hành chính [5]. Báo cáo nghiên cứu “Xâm hại tình dục tại nơi làm việc ở Việt Nam” Bức tranh khái quát và khung pháp lý để giải quyết, ILO – MOLISA, tháng 12 năm 2012. Tài liệu chuyên đề này tóm tắt những phát hiện chính của Nghiên cứu “Quấy rồi tình dục tại nơi làm việc ở Việt Nam: Bức tranh khái quát và khung cảnh pháp lý để giải quyết” (năm 2012), là kết quả của hợp tác giữa Vụ Bình đẳng giới thuộc Bộ Lao động – Thương binh và X.
Mục đích của Tài liệu chuyên đề này là tóm tắt thực trạng, luật pháp Việt Nam và những khuyến nghị ngăn ngừa và giải quyết xâm hại tình dục tại nơi làm việc cho các bên liên quan. Nghiên cứu bao gồm rà soát đánh giá tài liệu về xâm hại tình 3 dục tại nơi làm việc và các công ước, pháp luật, chính sách của quốc tế và của Việt Nam liên quan đến xâm hại tình dục tại nơi làm việc và thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phương pháp định tính bao gồm thảo luận nhóm trọng tâm tại Hà Nội (3 cuộc) và thành phố Hồ Chí Minh (2 cuộc). Đối tượng tham gia thảo luận nhóm trọng tâm là cán bộ của các cơ quan quản lý Nhà nước, người lao động và đại diện của các tổ chức công đoàn; người sử dụng lao động và đại diện của các tổ chức của người sử dụng lao động, nghiên cứu viên thuộc các cơ quan nghiên cứu và đại diện của một số tổ chức đoàn thể khác; và sinh viên của bốn trường đại học, tổng cộng là 102 người (72 nữ và 30 nam). Các cuộc thảo luận nhóm được tổ chức nhằm tìm hiểu sâu hơn những vấn đề rút ra từ kết quả rà soát phân tích tài liệu hiện có về thực trạng xâm hại tình dục tại nơi làm việc ở Việt Nam, khẳng định lại một số vấn đề nổi lên qua rà soát phân tích này.
Bộ quy tắc ứng xử về xâm hại tình dục tại nơi làm việc (Bộ quy tắc) do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp với Bộ lao động, Thương binh và Xã hội và Phòng Thương mại và Công Nghiệp Việt Nam thực hiện. Bộ quy tắc đã hướng dẫn việc triển khai trên thực tiễn những quy định của Bộ luật lao động và các văn bản có liên quan về việc phòng, chống xâm hại tình dục tại nơi làm việc cho người sử dụng lao động, tổ chức đại diện của người sử dụng lao động, người lao động và tổ chức công đoàn để giải quyết có hiệu quả tình trạng xâm hại tình dục, đồng thời đưa ra khuyến nghị trong việc xây dựng, ban hành, thi hành và giám sát thực hiện tại nơi làm việc về xâm hại tình dục và khích lệ, thúc đẩy xây dựng một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, để đảm bảo tất cả người lao động, không phân biệt giới tính và địa vị xã hội, đều được đối xử một cách công bằng và tôn trọng nhân phẩm của họ. Theo tác giả Haannah Stephenson trong “Chung tay chấm dứt xâm hại tình dục đã cung cấp số liệu về xâm hại tình dục tại Việt Nam như sau: Từ thời điểm xâm hại tình dục được đưa vào khung luật pháp năm 2013, việc chưa có một trường hợp xâm hại tình dục nào được đưa ra tòa án tại Việt Nam thực sự là một con số gây sốc. Thậm chí, theo Tiếng Chuông (một trang web của Ủy ban Quốc gia về Phòng, chống HIV/AIDS và ma túy, mại dâm), chưa có trường hợp nào bị phạt vì các hành vi xâm hại này trong khi một số trường hợp xâm hại tình dục trẻ em đã được đưa ra xét xử.
Mặt khác, số liệu Số liệu cho thấy 78,2% nạn nhân của xâm hại tình dục tại nơi làm việc ở Việt Nam là nữ giới. Điều này cho thấy phần đông chỉ tìm kiếm sự giúp đỡ hoặc báo cáo sự việc họ gặp phải khi xâm hại leo thang trở thành tấn công tình dục. Theo một khảo sát thực hiện năm 2014, 87% nữ giới được khảo sát tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh xác nhận họ đã bị xâm hại tình dục tại nơi công cộng; 67% người qua đường không có phản ứng gì để giúp đỡ. Tại trường học, 31% nữ sinh cho biết họ đã bị xâm hại tình dục nơi công cộng và trên các phương tiện công cộng.
Một báo cáo của Tổ chức Plan Quốc tế cho thấy 11% học sinh từ 30 trường trung học phổ thông tại Hà Nội xác nhận họ từng bị lạm dụng hoặc xâm hại tình dục.