Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Các kết quả nghiên cứu về lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm Nghiên cứu lý luận về PNTHTP nói chung và nghiên cứu lý luận về PNTH các tội XPSKCCN luôn nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học. Qua nghiên cứu các tài liệu nước ngoài, cho thấy một số công trình nghiên cứu lý luận về PNTHTP như sau: Nhóm thứ nhất, các đề tài nghiên cứu khoa học, luận án Tiến sĩ có liên quan đến PNTHTP: - Minkovskij G.M (chủ biên), “Cơ sở lý luận của việc phòng ngừa tội phạm” - Mát-xcơ-va, Jurid.
Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về cơ sở lý luận của PNTP, theo đó, về mặt phương pháp luận, công trình đã nêu rõ: Chủ nghĩa Mác-Lênin đã xác định tội phạm là một hiện tượng xã hội; phương hướng phòng, chống tội phạm cơ bản nhất là PNTP. Các tác giả cho rằng, PNTP phải bao gồm các biện pháp để loại trừ các hiện tượng tiêu cực khỏi đời sống xã hội, các điều kiện sống không lành mạnh và không ổn định; phát triển các tiền đề cho việc nâng cao trình độ văn hoá của các thành viên trong xã hội, làm cho họ có thể phát huy được tính tích cực của mình; mở rộng hơn nữa điều kiện giáo dục của gia đình. - Nhà tội phạm học người Mỹ, GS.Sutherland [134] cho rằng: về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do người phạm tội đã học hành vi phạm tội thông qua nhóm khác biệt, từ sự giao tiếp, quan hệ với người khác trong xã hội và những người này đã có ảnh hưởng ít nhiều đến hành vi phạm tội của họ. Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra và lý giải nguyên nhân cho các trường hợp phạm tội khác nhau của người phạm tội cũng như nguyên nhân người phạm tội tái phạm trong xã hội.
- Nhà tội phạm học người Mỹ Frank Schmalleger [136]: “Tội phạm học là một khoa học liên ngành nghiên cứu về tội phạm và hành vi phạm tội, bao gồm cả những 7 biểu hiện của nó cũng như nguyên nhân, các khía cạnh pháp lý và sự kiểm soát. Khi nghiên cứu về tội phạm học, người nghiên cứu phải có sự hiểu biết và thấy được mối quan hệ với các ngành khoa học khác để từ đó luận giải, làm rõ diễn biến, nguyên nhân, các quy định của pháp luật có liên quan. Để từ đó xây dựng các giải pháp hạn chế tội phạm xảy ra”. - Học giả Tim Newburn [151] đã sử dụng các học thuyết về tội phạm để giải thích nguyên nhân - điều kiện phát sinh tội phạm, như Học thuyết về cấu trúc xã hội, Học thuyết về tâm lý học của hành vi, Học thuyết về mối liên hệ giữa yếu tố sinh học và xã hội, Học thuyết về sự phát triển của cá nhân qua các giai đoạn … Về vấn đề phòng ngừa tội phạm, tác giả Tim Newburn [151] cho rằng PNTP được hiểu tương đối khác nhau, nhưng có hai xu hướng chính.
Xu hướng thứ nhất coi PNTP là những ý tưởng, kế hoạch và chiến lược dùng để dự báo, nhận thức và đánh giá nguy cơ phạm tội để từ đó xây dựng các kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn, không để tội phạm xảy ra trong xã hội. Xu hướng khác cho rằng, PNTP là tổng hợp những sáng kiến cá nhân, chính sách của quốc gia với mục đích giảm thiểu hậu quả của những hành vi bị coi là tội phạm theo quy định của pháp luật. Theo đó, các biện pháp PNTP được xây dựng theo các định hướng: Phòng ngừa tội phạm qua xây dựng môi trường tích cực; Phòng ngừa tội phạm thông qua thực hiện các giải pháp ngăn chặn nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm; Phòng ngừa tội phạm thông qua giải quyết các vấn đề thiếu sót của xã hội, như phúc lợi xã hội, hỗ trợ giải quyết các vấn đề khó khăn trong đời sống, tạo cơ hội tái hoà nhập cộng đồng cho người phạm tội; Phòng ngừa tội phạm dựa trên cơ sở xác định những nhóm hành vi phạm pháp có thể được học hay tiếp thu trong quá trình phát triển nhân cách của một cá nhân, từ đó chủ động các biện pháp phòng ngừa đối với những hành vi phạm tội có nguy cơ xảy ra cao; Phòng ngừa tội phạm dựa trên sức mạnh cộng đồng; Phòng ngừa tội phạm qua xây dựng hệ thống pháp luật chặt chẽ, hạn chế tối đa kẽ hở để tội phạm có thể lợi dụng được và phòng ngừa tội phạm qua hợp tác quốc tế nhằm phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia. Can Ueda [130] đã nghiên cứu và chỉ ra những khó khăn trong công tác PNTP.
Theo ông, quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, sự di cư đã 8 làm xã hội mất tính ổn định, tạo ra mâu thuẫn giữa các tầng lớp trong xã hội, ảnh hưởng đến sự đoàn kết trong dân cư. Đây chính là những khó khăn cho hoạt động PNTP. - A Century of Juvenile Justice (Vấn đề thực thi tư pháp đối với trẻ vị thành niên trong một thế kỷ) của Franklin E. Các tác giả đã tập trung nghiên cứu về quá trình áp dụng pháp luật đối với người CTN phạm tội nói chung và các tội XPSKCCN trong suốt thế kỷ 20, đưa ra chi tiết và so sánh các chính sách tư pháp áp dụng đối với trẻ vị thành niên trong suốt lịch sử 100 năm.
- Các chương trình phòng ngừa tội phạm, tài liệu, chuyên đề về PNTP trong thanh, thiếu niên ở Vương quốc Anh như: “Chiến lược phòng ngừa tội phạm trong thanh niên” của Bob Ashford năm 2007, chương trình “Phòng ngừa tội phạm trong thanh, thiếu niên” của chính phủ Vương quốc Anh. Các chương trình rất toàn diện: từ định hướng phát triển nhân cách, giáo dục thể chất, giáo dục văn hóa, tạo việc làm cho thanh niên đến tăng cường các biện pháp kiểm soát xã hội của chính phủ trung ương và địa phương, của Cảnh sát đối với thanh thiếu niên. Các chương trình cũng đề ra các nhiệm vụ cụ thể của cơ quan Cảnh sát, nhất là Cảnh sát ở cơ sở trong giáo dục thanh thiếu niên nói chung và phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm do người chưa thành niên gây ra. Nhóm thứ hai, các giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo liên quan đến PNTHTP: - Sách chuyên khảo “Chiến lược phòng ngừa tội phạm tại Châu Âu và Bắc Mỹ” (Crime Prevention Strategies in Europe and North America) xuất bản năm 1997 tại Viện nghiên cứu Phòng ngừa và Kiểm soát tội phạm Helsinki, Phần Lan, do Tiến sỹ John Graham tổng hợp.
Nội dung sách đã trình bày nhiều nội dung về các biện pháp PNTP, trong đó đặc biệt đưa ra ba nhóm biện pháp cơ bản trong phòng ngừa tội 9 phạm, bao gồm: Một là, phòng ngừa mang yếu tố xã hội: Theo đó, để PNTP phải chú trọng việc loại trừ các nguyên nhân phạm tội xuất phát từ bản thân của người có khả năng, điều kiện thực hiện hành vi phạm tội. Hai là, phòng ngừa mang yếu tố tình thế: PNTP phảỉ chú trọng cách thức loại trừ các điều kiện khách quan làm nảy sinh tội phạm từ môi trường sống xung quanh có thể dẫn tới hoàn cảnh thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm. Ba là, PNTP từ cộng đồng: nhóm biện pháp chú trọng đến việc hoàn thiện các chính sách xã hội nhằm làm giảm thiểu các cơ hội thực hiện tội phạm thông qua các chính sách xã hội. Sách “Crime prevention" của hai tác giả Susan Geason và Paul Wilson [149], được Viện Tội phạm Úc xuất bản năm 1988 đã đưa ra một số quan điểm về phòng, chống tội phạm như: Các quốc gia cần nâng cao chất lượng cuộc sống cho công dân, trong đó cần chú trọng tới những điều kiện sống tối thiểu như: chỗ ở, nước sạch, chăm sóc y tế, đầu tư giáo dục; Nhà nước phải tạo ra môi trường thuận lợi cho những người lầm lỗi có cơ hội làm lại cuộc đời, giúp họ không đi vào con đường tái phạm tội; Phải nghiên cứu, đánh giá đúng những nguyên nhân - điều kiện làm phát sinh tội phạm trong xã hội và triệt tiêu, xóa bỏ những yếu tố đó, đây chính là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu.
- Sách: “Tội phạm học” của D. Shestakob xuất bản năm 2006 của Nhà xuất bản Trung tâm pháp lý Press [146] đã chỉ ra cơ sở lý luận tội phạm học và những lĩnh vực mới của tội phạm học. Tác giả đề cập tới những hành vi phạm tội phổ biến, những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội trong xã hội. Đối với những lĩnh vực mới của tội phạm tác giả tập trung đề cập hai loại tội phạm mới đó là tội phạm gia đình và tội phạm chính trị.
Đồng thời tác giả cũng chỉ ra một số nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội và các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm. Về biện pháp phòng ngừa, tác giả đã chỉ ra biện pháp PNTP là phải làm rõ nguyên nhân - điều kiện dẫn đến tội phạm; từ đó tiến hành các biện pháp làm triệt tiêu các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm. Đây là công trình đề cập chuyên sâu đến những vấn đề lý luận cơ bản nhất về tội phạm, nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, các điều 10 kiện tồn tại của tội phạm nói chung, và các giải pháp cơ bản có tính toàn diện, hệ thống về PNTP. - Sách chuyên khảo "Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản hiện đại” của Giáo sư Can Ueda - Nhật Bản đã chỉ ra rằng: Một trong những kinh nghiệm thành công của Cảnh sát Nhật Bản trong công tác PNTP là do đã làm tốt công tác vận động nhân dân tham gia vào công tác này và hỗ trợ điều tra tội phạm.
- Giáo trình Criminology của Katherine S.Williams biên soạn, sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy tại Đại học Oxford. Tác giả cho rằng yếu tố nạn nhân có ảnh hưởng, tác động đến quá trình hình thành tội phạm, nhất là các tội về tài sản (sự phô trương và bảo quản tài sản kém). Các đặc điểm về sinh lý và di truyền cũng vậy, nó tạo nên những trạng thái tâm lý không bình thường, cảm giác thỏa mãn, mong muốn khi thực hiện những hành vi phạm tội. - Cuốn Crime prevention: principles, perspectives and practices (Phòng ngừa tội phạm: Nguyên tắc, quan điểm và thực tiễn) của Đại học Cambridge do nhóm tác giả Phó giáo sư Adam Sutton (Đại học Melbourne); Adrian Cherney (Đại học Queensland) và Giáo sư Rob White (Đại học Tasmania) biên soạn.