Chương 1. Khái quát về tội loạn luân và quan điểm của một số quốc gia trên thế giới về loạn luân. Tình hình tội phạm loạn luân và nguyên nhân, điều kiện của tội loạn luân nhìn từ góc độ lịch sử - văn hoá - giáo dục. Thực tiễn phòng ngừa tội loạn luân từ góc độ lịch sử - văn hoá – giáo dục, một số định hướng và giải pháp.
KHÁI QUÁT VỀ TỘI LOẠN LUÂN VÀ QUAN ĐIỂM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ LOẠN LUÂN 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý về tội loạn luân 1. Khái niệm loạn luân Trên phương diện về cách hiểu ngôn ngữ, Từ điển tiếng Việt giải thích từ “loạn luân” với nghĩa là “quan hệ nam nữ về xác thịt với nhau giữa những người cùng máu mủ, trái với phong tục hoặc pháp luật”. Còn trong Từ điển tiếng Anh Oxford (Oxford Advanced Learner's Dictionary) giải thích từ loạn luân (Incest) là “hoạt động tình dục giữa hai người có quan hệ rất thân thiết trong một gia đình, ví dụ, anh chị em, hoặc cha và con gái”.
Trên phương diện pháp lý, loạn luận là tội phạm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Điều 184 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) “Người nào giao cấu với người mà biết rõ người đó cùng dòng máu về trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Như vậy, theo Bộ luật Hình sự Việt Nam, loạn luân được giải thích là hành vi giao cấu với người mà biết rõ người đó cùng dòng máu về trực hệ5 (bao gồm hành vi giao cấu giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại6; ví dụ: giữa cha với con gái, giữa ông nội với cháu gái nội…) hoặc hành vi giao cấu giữa anh chị em cùng cha mẹ với nhau, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha và hành vi giao cấu này được thực hiện bằng sự đồng thuận giữa các chủ thể. Tại Hoa Kỳ, theo Trường luật Cornell thuộc Đại học Cornell – một trong những trường luật hàng đầu, giải thích loạn luân là hôn nhân hoặc quan hệ tình dục với người thân trong mức độ quan hệ huyết thống bị cấm; là quan hệ tình dục giữa những người có quan hệ huyết thống gần gũi, bao gồm anh chị em ruột, cha mẹ và con cái, ông bà và cháu, hoặc cô dì chú bác với cháu trai hoặc cháu gái; và loạn luân là một tội ác ở tất cả các bang, ngay cả khi có sự đồng thuận của cả hai bên7. Trên quan điểm của tôn giáo, theo mục 2388 Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo nói rằng: “Tội loạn luân là quan hệ tình dục giữa những người họ hàng cùng huyết 5 “Những người cùng dòng máu về trực hệ” được giải thích tại khoản 17 Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là “là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau”.
6 Theo quy định tại điểm 6.1 thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001 hướng dẫn áp dụng các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. 7 Wex Definitions Team, “incest”, [https://www.edu/wex/incest], (truy cập ngày 20/5/2023). 8 tộc hoặc hôn thuộc, mà luật cấm kết hôn với nhau… Tội loạn luân phá vỡ quan hệ gia đình và cho thấy một sự thoái hóa trở về thú tính”8. Theo Kinh Torah của Do Thái giáo, được ban hành bởi Leviticus 18 từ Điều số 7 đến Điều số 18 có giải thích về loạn luân là hành vi cấm bằng cách liệt kê9.
Như vậy, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về loạn luân, nhưng tựu chung lại các quan điểm về loạn luân đều cho rằng (i) đây là hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác; (ii) giữa các chủ thể có quan hệ huyết thống, họ hàng với nhau và (iii) đa phần là kèm theo sự phê phán, lên án đối với hành vi này. Cơ sở pháp lý của tội loạn luân Chế định về loạn luân của Việt Nam qua các triều đại lịch sử Không sai khi khẳng định rằng, sự tồn tại và phát triển của Nhà nước nào cũng dựa trên bộ khung pháp lý do pháp luật tạo ra và gắn bó một cách mật thiết với nhau. Trong suốt chiều dài lịch sử của Việt Nam, mỗi thời kỳ lại mang một nét đặc trưng riêng về pháp luật. Theo chiều hướng đó, những chế định về hôn nhân và gia đình cũng không hoàn toàn giống nhau qua các giai đoạn.
Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hình thái kinh tế, cách nhìn nhận của xã hội về hôn nhân và gia đình, văn hóa hôn nhân của riêng từng giai đoạn. Từ khi pháp luật khai sinh - tức cuối thời đại Hùng Vương đã hình thành sơ khai các chế định pháp luật. Tuy nhiên lúc bấy giờ do còn chịu ảnh hưởng lớn từ các truyền thuyết, sự quy định của pháp luật chưa thực sự chặt chẽ cộng với khả năng lập pháp còn sơ sài; trong khi sự thống trị của phong tục lấn át “tính bắt buộc” của luật lệ, thì sức mạnh của pháp luật vẫn chưa được phát huy hiệu quả. Tất nhiên, các chế định về hôn nhân và gia đình cũng không loại trừ những lỗ hổng và thiếu sự ràng buộc đối với cư dân trên lãnh thổ Việt Nam thời đó.
Sang giai đoạn đầu của thời kì Bắc thuộc, đất nước vừa trải qua những cuộc chiến đánh tan âm mưu xâm lược của các thế lực phương Bắc. Pháp luật lúc này chủ yếu hướng đến “Trị quốc - Bình thiên hạ”, ưu tiên xây dựng các chế định hướng đến việc cai trị đất nước, vạch ra đường lối chống giặc ngoại xâm. Song song với pháp luật là sự bành trướng của “lệ”. Tuy có phạm vi ảnh hưởng nhỏ hơn “luật”, song do xuất phát từ trong lòng nhân dân, nên “lệ” được áp dụng triệt để hơn và rất được nhân dân coi trọng.
Lệ làng lúc bấy giờ không quy định với phạm vi vĩ mô như luật pháp, mà thường điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong cuộc sống thường ngày, gắn bó với dân làng như điền viên, tình làng nghĩa xóm, hôn nhân gia đình. Sự ra đời của 8 Phaolô Nguyễn Văn Bình (1994), Sách giáo lý của giáo hội công giáo, Sài Gòn, tr. 9 “Leviticus Chapter 18”, [https://mechon-mamre.org/p/pt/pt0318.htm#7], truy cập ngày 10/6/2023. 9 “lệ” đánh dấu sự manh nha trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
Tuy vậy, vẫn chưa có nhiều tài liệu thuyết phục về khả năng ràng buộc hay cấm đoán việc loạn luân xảy ra lúc bấy giờ. Mãi đến thời Lê sơ với sự ra đời của “Quốc triều Hình luật” đã đánh dấu vị trí chính thức của tội loạn luân trong nhóm các tội thuộc lĩnh vực Hình sự. Cũng giống như đại đa số các bộ luật thời Trung Cổ của các nhà nước Phương Đông, Bộ luật Hồng Đức (tức Quốc triều Hình luật) không có sự giới hạn của các quy phạm pháp luật với các quy phạm đạo đức khi quy định một số hành vi phi đạo đức là những tội phạm đặc biệt nguy hiểm ngang hàng với những tội phạm chống nhà nước. Tất cả đều được nhà lập pháp lúc đó xếp chung vào danh mục mười tội ác - “thập ác tội”10 được quy định tại Điều 2 Bộ luật Hồng Đức: 1) Mưu phản là mưu mô làm xã tắc sụp đổ 2) Mưu đại nghịch là mưu mô phá hư tông miếu, sơn lăng và cung khuyết vua 3) Mưu chống đối là âm mưu phản đối theo giặc 4) Ác nghịch là mưu mô đánh giết ông bà cha mẹ, chú bác thím cô, anh chị, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng 5) Bất đạo là giết ba người trong một nhà, không đáng tội giết.
Giết xong chặt lìa thi thể, tạo chất độc bùa mê 6) Đại bất kính, là ăn trộm đồ thờ trong lăng miếu, đồ ngự dụng, làm giả ấn tín của vua, chế thuốc ngự không theo đúng phương, thuốc bao gói đề lầm; nếu ngự thiện phạm vào những món ăn cấm; không gìn giữ thuyền ngự chọn được chắc chắn; chỉ trích nhà vua và đối với sứ giả nhà vua không đúng bề tôi 7) Bất hiếu, là tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời của cha mẹ dạy bảo; nuôi nấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ, lấy chồng, vui chơi ăn mặc như thường; nghe thấy tang ông bà, cha mẹ mà giấu, không cử ai; nói dối là ông bà, cha mẹ chết 8) Bất mục, là giết hay đem bán những người trong họ từ hàng phải để tang ba tháng trở lên, đánh đập và tố cáo chồng, cùng những họ hành từ tiểu công trở lên. 9) Bất nghĩa, là giết quan bản phủ và các quan đương chức tại nhiệm; giết thầy học; nghe thấy tin chồng chết không cử ai lại vui chơi ăn mặc như thường, cùng là cải giá. 10 Trịnh Thị Oanh (2010), (2), tr. 10 10) Nội loạn, là gian dâm với người trong họ từ hàng tiểu công trở lên, cùng nàng hầu của ông cha.
11 Nhìn vào chế định về thập ác tội trong Bộ luật Hồng Đức có thể dễ dàng nhận thấy rằng việc hoang dâm với những người trong họ hàng ở thời này là hoàn toàn bị cấm đoán và chế tài cho những kẻ phạm vào nó là rất lớn. Cụ thể các hình phạt phải chịu cho những kẻ phạm vào “thập ác tội” nói chung và tội loạn luân nói riêng như sau: Tại Điều 4 Bộ luật Hồng Đức: “Phàm những người thuộc vào tám điều nghị xét giảm tội mà phạm vào tử tội thì các quan nghị án phải khai rõ tội trạng và hình phạt nên xử thế nào, làm thành bản tấu, dâng lên vua để xét định. Từ tội lưu trở xuống thì được giảm một bậc, nếu phạm tội thập ác thì không theo luật này”; Điều 11 Bộ luật Hồng Đức: “Những kẻ phạm tội ác nghịch thì dẫu có dịp ân xá cũng không được ân xá”; Điều 16 Bộ luật Hồng Đức: “Những người 70 tuổi trở lên, 13 tuổi trở xuống cùng những người bị phế tật, phạm tội từ lưu trở xuống đều cho chuộc bằng tiền, phạm tội thập ác thì không theo luật này”; Điều 18 Bộ luật Hồng Đức: “ Phàm phạm tội chưa bị phát giác mà tự thú trước, thì được tha tội. Phạm tội thập ác và giết người thì không theo luật này”.
Điển hình nhất về chế tài là Chương “Thông gian”, Điều 404 quy định:"Gian dâm với con gái nhỏ từ 12 tuổi trở xuống, dù nó thuận tình, thì vẫn xử như tội hiếp dâm”. Trong đó tội hiếp dâm được quy định tại Điều 403 chương Thông Gian có ghi rõ:“hiếp dâm thì xử lưu hay chết.