Chương 1: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa Tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong Bộ luật hình sự. Chương 2: Thực trạng hoạt động phòng ngừa tội phạm huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Chương 3: Dự báo tình hình tội phạm và các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM HỦY HOẠI HOẶC CỐ Ý LÀM HƢ HỎNG TÀI SẢN 1.1 Nhận thức chung về tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hƣ hỏng tài sản Hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là những hành vi xâm hại trực tiếp đến tài sản của công dân, Nhà nước trừ những hành vi xâm hại các công trình quan trọng về an ninh quốc gia,v.v… hậu quả của tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là bao gồm những thiệt hại về vật chất và chi phí khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản thiệt hại cho nên trong cấu thành tội phạm thì hậu quả là dấu hiệu bắt buộc.
Vì vậy, sự nhận thức đầy đủ về hậu quả của tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có vai trò quan trọng trong việc tăng cường bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tính mạng, tài sản của công dân, v.1 Khái niệm tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong luật hình sự Việt Nam Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là một trong những tội được quy định rất sớm trong các văn bản luật như: Sắc luật số 26-SL/46 ngày 25/2/1946 của Chính phủ cách mạng lâm thời về việc phá hoại cộng sản gồm 06 Điều nêu rõ việc cố ý phá hoại một phần hay toàn thể các cầu cống, kênh hay sông đào…, Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc trừng trị một số tội phạm nhằm bảo vệ an ninh trật tự an toàn xã hội cho nhân dân, giữ gìn, bảo vệ chính quyền cách mạng trong kháng chiến,v.v…đến ngày 27/6/1985 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá VII đã thông qua Bộ luật hình sự năm 1985 (có hiệu lực từ ngày 01/01/1986), thì loại tội phạm trên được quy định tách ra thành 02 loại tội dựa trên đối tượng tội phạm là tài sản XHCN tại Điều 138 và tài sản công dân tại Điều 160 của Bộ luật hình sự. Tại Điều 138 Bộ luật hình sự quy định: 1. Người nào huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa, nếu không thuộc trường hợp quy định ở điều 79 và 94 thì bị phạt từ từ 01 đến 07 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 5 đến 15 năm: a) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; b) Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị lớn; 6 c) Gây hậu quả nghiêm trọng; d) Để che giấu tội phạm khác; 3.
Phạm tội trong các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Tại Điều 160 Bộ luật hình sự quy định: 1- Người nào huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thu đoạn nguy hiểm khác; b) Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; c) Để che giấu tội phạm khác; d) Tái phạm nguy hiểm. 3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.
Ngày 21/12/1999 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Bộ luật hình sự năm 1999 đã sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số tội phạm có hiệu lực ngày 01/7/2000. Trong các tội được sửa đổi, bổ sung thì có tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là do xuất phát từ những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm này nên cần có sửa đổi, bổ sung phù hợp hơn mà cụ thể là việc nhập hai Điều luật 138 và 160 Bộ luật hình sự 1985, về hình phạt, hình sự hoá một số hành vi phạm tội này, cũng như cần có những quy định cụ thể và chi tiết để áp dụng được thống nhất, đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới,v.v…Như vậy việc nhập hai tội (hủy hoại tài sản XHCN và tài sản công dân) lại thành 01 tội tại Điều 143 BLHS 1999 là xuất phát từ sự chuyển biến của kinh tế-xã hội, sự thay đổi của Hiến pháp 1992 về thừa nhận chế độ đa sở hữu, sở hữu tư nhân không bị xem nhẹ hơn sở hữu nhà nước nhằm tạo môi trường xã hội công bằng bình đẳng hơn.Còn tình tiết xâm phạm tài sản nhà nước chỉ xem là tình tiết tăng nặng tại Điều 48 BLHS. Theo quy định tại Chương XIV, Điều 143 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã quy định như sau: 7 “1.Người nào huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”…. Như vậy, với quy định tại Điều 143 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi) so với Bộ luật hình sự năm 1985 đã có một số sửa đổi, bổ sung: + Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1985 đã quy định “Người nào huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 79 và Điều 94”; hoặc theo quy định tại khoản 1 Điều 160 của Bộ luật hình sự năm 1985 quy định “Người nào huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”; thì khoản 1 Điều 143 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi): “Người nào huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm…”, với việc sửa đổi, bổ sung này thì phạm vi áp dụng về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đã giảm đi so với Bộ luật hình sự năm 1985, điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi) thì phải thoả mãn một trong các điều kiện sau: gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
+ Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 143 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi) đã bổ sung một số tình tiết định khung so với Bộ luật hình sự năm 1985 gồm: là “Có tổ chức; vì lý do công vụ của người bị hại; tái phạm nguy hiểm” và sửa đổi tình tiết “huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị lớn” thành “Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng”, việc sửa đổi, bổ sung một số tình tiết này là xuất phát từ thực tiễn của tình hình tội phạm này đặt ra đòi hỏi cần có những điều chỉnh cho phù hợp hơn. + Đồng thời Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi) đã quy định thêm 02 khung hình phạt so với Bộ luật hình sự năm 1985 và chi tiết hơn về các tình tiết định khung tăng nặng và hình phạt cũng có độ giản thấp hơn theo sự phân hóa tội phạm tại Điều 8 của Bộ luật mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thực tiễn áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự, điểm đáng chú ý là Ngày 19/6/2009 Quốc hội khoá XII đã bỏ hình phạt tử 8 hình tại 08 tội (hiếp dâm, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, buôn lậu, tàng trữ lưu hành tiền giả ngân phiếu công trái giả, sử dụng ma tuý trái phép, chiếm tàu bay tàu thuỷ, đưa hối lộ, huỷ hoại vũ khí quân dụng phương tiện kĩ thuật quân sự), đây thể hiện mục đích hình phạt chủ yếu là giáo dục chứ không chỉ là nhằm trừng phạt. + Chẳng hạn về hình phạt theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1985 thì hình phạt tù từ một năm đến bảy năm hoặc khoản 1 Điều 160 BLHS thì hình phạt tù từ sáu tháng đến năm năm, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 143 BLHS của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi) thì chi tiết hơn, và có mức độ khác nhau như thấp nhất là hình phạt cải tạo không giam giữ, cao nhất là hình phạt tù đến ba năm, việc chi tiết mức hình phạt của tội này một phần xuất phát từ nhiệm vụ của Bộ luật hình sự là ngoài giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, mà còn xuất phát từ tính nhân đạo của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là giáo dục người phạm tội,v.v… Từ tất cả nhận thức như trên, có thể rút ra khái niệm về Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội của người có năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm cho tài sản của họ bị thiệt hại không còn khắc phục lại được hoặc bị hư hỏng không còn như tình trạng ban đầu và theo quy định của Bộ luật hình sự họ phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS).