CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH TỘI CHÓNG NGƯỜI THỊ HÀNH CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI DOAN 2007-2013 “Tinh hình tội phạm là trạng thai, xu thé vận động của tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc một loại tội phạm) đã xay ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định” (3, tr. Nghiên cứu tình hình tội CNTHCV ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013 đòi hỏi cần nghiên cứu thực trạng và diễn biến của tội phạm này. Thực trạng của tội CNTHCV ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013 Thực trạng của tội phạm là tình trạng thực tế hiện có của tội phạm trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định. Nghiên cứu thực trạng của tội phạm là nghiên cứu hai đặc điểm của thực trạng - đặc điểm về mức độ được phản ánh qua số lượng tội phạm cũng như số lượng người phạm tội và đặc điểm về tính chất được phản ánh qua các cơ cầu của tội phạm cũng như của người phạm tội [4, tr.
Để làm rõ thực trạng của tội CNTHCV trong giai đoạn 2007-2013, chúng ta cần làm rõ đặc điểm về mức độ và tính chất của tội CNTHCV trong giai đoạn nay. Thực trang của tội CNTHCV ở Việt Nam trong giai doan 2007-2013 xét về mirc độ Thực trạng của tội phạm xét về mức độ được phản ánh qua các thông SỐ về tội phạm, người phạm tội và các thông số khác liên quan đến tội phạm, đến người phạm tội đã xảy ra trong một đơn vị không gian và thời gian xác định. Tuy nhiên tội phạm xảy ra trên thực tế có thê được phát hiện hoặc chưa được phát hiện, có thé được xử lý hình sự hoặc không xử lý về hình sự, có thể có trong thống kê hình sự (tội phạm rõ) hoặc không có trong thống kê hình sự (tội phạm ân). Nói tóm lại tội phạm rõ và tội phạm an là hai phần của tội phạm đã xảy ra, có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Do đó, khi nghiên cứu đặc điểm mức độ của thực trạng chúng ta không thể căn cứ đơn thuần vào các thông số của tội phạm rõ mà chúng ta còn phải có những đánh giá nhất định về tội phạm an. Tội phạm rõ Bang 1. Số vụ, số người phạm tội CNTHCV ở Việt Nam trong giai doan 2007-2013 Giai đoạn 2007-2013 Số vụ Số người phạm tội _—— Tổng 534] 8864 TB/nam 763 1266,3 (Nguôn: TANDTC) Tội CNTHCV là một tội danh được quy định trong chương Các tội xâm phạm TTQLHC. Đề lam rõ thực trạng của tội CNTHCV cần xem xét tội phạm nay trong mối tương quan với cả nhóm tội xâm phạm TTQLHC nói chung.
Số vụ, số người phạm tội CNTHCV so sánh với số vụ, số người phạm các tội xâm phạm TTQLHC ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013 Các tội xâm phạm Tội CNTHCV Ty lệ Giai đoạn TTQLHC 2007- Số người Sô người Sô vụ Sô vụ 2013 a) phạm tội G) phạm tội | (1)/(3) | (23⁄4) (2) (4) - Tổng 534I 8864 6900 12407 77% 71% TB/nam 763 1266,3 986 1772 77% 71% (Nguôn: TANDTC) Như vậy, trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2013 có 6900 vu phạm các tội xâm phạm TTQLHC với 12407 người phạm tội, trung bình một năm trong giai đoạn này có khoảng 986 vụ với 1772 người phạm các tội xâm phạm TTQLHC. So sánh các số liệu này với các số liệu của tội CNTHCV, chúng ta thay: - Ty lệ giữa tổng số vụ phạm tội CNTHCV so với tổng số vụ phạm các tội xâm phạm TTQLHC trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2013 là 5341/6900 (chiếm tỷ lệ khoảng 77%); - Tỷ lệ giữa tổng số người phạm tội CNTHCV với tổng số người phạm các tội xâm phạm TTQLHC trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2013 là 8864/12407 (chiếm ty lệ khoảng 71%); - Tỷ lệ giữa số vụ phạm tội CNTHCV trung bình hàng năm với số vụ phạm các tội xâm phạm TTQLHC trung bình hàng năm trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2013 là 763/986 (chiếm khoảng 77%); - Tỷ lệ giữa số người phạm tội CNTHCV trung bình hàng năm với số người phạm các tội xâm phạm TTQLHC trung bình hàng năm trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2013 là 1266/1772 (chiếm khoảng 71%). Chúng ta có thé thay rõ hơn tỷ lệ này qua biểu đồ dưới đây: Biểu đô 1. Tỷ lệ giữa số vụ, số người phạm tội CNTHCV với số vụ, số người phạm tội thuộc chương Cúc tội xâm phạm TTQLHC ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013 Số người phạm tội Số vụ 0% 20% 40% 60% 80% 100% Tội CNTHCV @ Cac tội xâm phạm TTQLUC Như vậy, tội CNTHCV chiếm tỷ lệ tương đối lớn (trên 70%) về số vụ và số người phạm tội trong tổng số vụ và người phạm tội thuộc chương Các tội xâm phạm TTQLHC.
Tỷ lệ này cho thấy tội CNTHCV 1a tội có mức độ phô biên cao so với các tội phạm khác trong nhóm các tội xâm phạm TTQLHC. Đây là một thực trạng đáng báo động bởi tội phạm này không những là hành vi nguy hiểm cho người thi hành công vụ mà còn đe dọa hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Đề thấy được vi trí của tội CNTHCV trong tổng sé các tội phạm đã xảy ra ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013, trên cơ sở nghiên cứu mau LA - kết quả thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thâm của TANDTC, tác giả tiến hành so sánh thực trạng của tội CNTHCV với thực trạng của tội phạm có số vụ xảy ra nhiều nhất (tội trộm cắp tài sản) và thực trạng của tội phạm có số vụ xảy ra ít nhất (tội khủng bó) trong giai đoạn 2007-2013. Số vụ CNTHCV so sánh với số vụ khủng bố và số vụ trộm cap tài sản bị xét xử ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013 _ Giai đoạn Số vụ Số vụ Số vụ trộm Tỷ lệ 2007-2013 | khủng bô | CNTHCV | cắp tài sản 2) 2⁄3 | Tông | 3 5341 57926 | 178033,33% | 9,22% _—_ TH/năm - 0,43 7603 _ 8275_ 177441,86% | 9,22% (Nguôn: TANDTC) Bang 1.
Số người phạm tội CNTHCV so sánh với số người phạm lội khủng bố và số người phạm tội trộm cap tài san bị xét xử ở Việt Nam trong giai doan 2007-2013 - „ S A xi. T 2 lê SỐ Số người | Số người | °° BNO yt Giai doan ` X phạm tội phạm tội | phạm tội ._ 2007-2013 : F trộm cặp khủng bô | CNTHCV tài sản (2)⁄(1) (2⁄G) (1) (2) _ (3) — Tổng 12 8864 93585 | 73866,67% | 9,47% TB/nam 1.7 1266,3 13369,3 74488,24% | 9,47% (Nguôn: TANDTC) Nhìn vào bảng 1.4 có thé thấy so với tội trộm cắp tài sản - là tội phạm xảy ra nhiều nhất trong giai đoạn 2007-2013 thì số vụ và số người phạm tội CNTHCV chiếm khoảng trên 9%; so với tội khủng bồ - tội phạm xảy ra ít nhất ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013 thì tội CNHCV xảy ra chiếm một tỷ lệ vô cùng lớn, chiếm khoảng 178033% số vụ và khoảng 73866% số người phạm tội. Do tỷ lệ về số vụ va số người phạm tội giữa hai tội này là rất lớn nên tác giả không biểu diễn bằng đồ thị các thông số này. Như vậy, qua hai bang 1.4 chúng ta có thê nhận thấy trong giai đoạn vừa qua, số vụ tội CNTHCV đứng ở vị trí gấp khoảng 1780 lần tội phạm xảy ra ít nhất và gan bang 1/10 tội phạm xảy ra nhiều nhất; còn số người phạm tội CNTHCV đứng ở vị trí gấp khoảng 738 lần tội phạm xảy ra ít nhất và gan bằng 1/10 tội phạm xảy ra nhiều nhất.
Trên đây là các thông số cụ thé về số vụ va số người phạm tội CNTHCV trong sự so sánh với các thông số tương ứng của nhóm các tội xâm phạm TTQLHC cũng như tội phạm xảy ra nhiều nhất và tội phạm xảy ra ít nhất trong giai đoạn vừa qua. Dé thấy rõ mức độ phố biến trong dân cư của tội phạm này chúng ta cân xác định các chỉ số tội phạm của tội CNTHCV. Xác định chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội CNTHCV (số vụ và số người phạm tội trung bình một năm/100.000 dân) ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013 cho chúng ta thay mức độ phổ bién trong dân cu của loại tội phạm này, qua đó chúng ta có thể đánh giá đầy đủ hơn thực trạng của tội phạm này ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013. Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội CNTHCYV ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013 , Sô người , Chỉ sô tội Chỉ sô người Sô vụ Dân sô phạm tội phạm/100.000 phạm tội TB/nam TB/nam TB/nam dan /100.000 dan 763 1266,3 87080714 0,88 1,45 (Nguồn: TANDTC và Tổng cục Thong kê) Qua bảng số liệu trên, có thé thấy chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội CNTHCV của giai đoạn 2007-2013 là 0,88 và 1,45.
Chỉ số này cho thấy trong cả giai đoạn 2007-2013, cứ 100.000 người dân thi có khoảng 0.88 vụ phạm tội va có khoảng 1,45 người phạm tội CNTHCV. Tội phạm ẩn “Tội phạm an là số lượng lội phạm và người phạm tội được thực hiện trên thực tế nhưng không được tường thuật với cơ quan có thẩm quyên hoặc chưa bị phát hiện (một cách chính thực) và do vậy chưa bị đưa ra xét xử, chưa có trong thống kê hình sự chính thức " [1, tr. 203) Trên thực tế tội CNTHCV xảy ra nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà cơ quan chức năng không phát hiện ra hoặc không thụ ly, xét xử hình sự nên không có trong thống kê hình sự. Đề xác định tỷ lệ những vụ án xảy ra mà do nguyên nhân khách quan chúng ta cần tiến hành khảo sát trên toàn quốc hoặc ở từng địa phương đã lựa chọn.
Tuy nhiên, với khả năng của cá nhân tác gia hiện nay chưa tiến hành thực hiện khảo sát được. Do đó dựa trên số liệu thu thập được của Bộ công an, tác giả đưa ra một số nhận định về tội phạm an của tội CNTHCV ở Việt nam trong giai đoạn 2007-2013. Tác giả nhận thấy “ân chủ quan” ở tội CNTHCV chiếm tỷ lệ tương đối đáng kê. Trong thời gian từ năm 2007 đến tháng 6 năm 2013 cả nước có 1869 vụ CNTHCV bị xử lý hành chính.
Trong số những vụ CNTHCV bị xử lý hành chính cũng có những vụ không cần thiết phải xử lý về hình sự do hành vi chưa nguy hiểm đến mức phải xử lý về hình sự, nhưng có những vụ có đầy đủ dấu hiệu của tội phạm và cần phải xử lý về hình sự nhưng lại chỉ bị xử lý hành chính vì nhiều nguyên nhân khác nhau như được thỏa thuận đền bù, do nhu cầu chính trị tại địa phương hay do tiêu cực.