mở đầu cho thời kỳ chế độ thả nổi và được duy trì cho đến ngày nay. Những đồng tiền chính giao dịch trên thị trường ngoại hối được thả nổi dưới sự trông nom sát sao của ngân hàng trung ương (NHTW) phát hành. Các NHTW tham gia can thiệp trên thị trường mở thường xuyên nhằm duy trì các hoạt động trên thị trường thị trường ngoại hối có trật tự hơn; hoặc, NHTW can thiệp nhằm mục đích điều chỉnh hướng biến động của thị trường theo mong muốn của mình. Các đồng tiền của các nước nhỏ hơn thường được neo cố định với một trong số những đồng tiền chính, và chủ yếu là USD; hoặc với đồng tiền của nước bạn hàng thương mại lớn nhất.
Hệ thống tỷ giá thả nổi rõ ràng là đã làm cho công tác dự báo tỷ giá giao ngay trong tương lai trở nên cực kỳ khó khăn, nhưng nó lại trở thành công cụ linh hoạt hơn nhiều so với chế độ cố định trong việc xử lý các áp lực của thị trường và những cú sốc trên thị trường ngoại hối như đã xảy ra trong suốt thời kỳ hiệu lực của hệ thống Bretton Woods. Ngày nay, thị trường ngoại hối ngày càng biến động phức tạp và khó dự đoán vì nhiều nguyên nhân khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Thứ nhất, thị trường biến động mạnh do sự gia tăng đáng kể của các thành viên tham gia thị trường nhằm mục đích tìm kiếm các cơ hội sinh lời khi tỷ giá biến động. Ngoài ra, các nguồn lực về kỹ thuật và công nghệ sẵn có của các thành viên tham gia thị trường đã được cải tiến một cách cơ bản theo hướng ngày một hiện đại hơn.
Trong các thành viên tham gia thị trường thì ngân hàng và những nhà đầu tư chuyên nghiệp là những người đóng vai trò chủ đạo. Thứ hai, thị trường ngoại hối biến động mạnh là là do các luồng di chuyển nhằm thanh toán sự mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế giữa các quốc gia là rất lớn. Vốn tư bản ngày nay được chu chuyển tương đối tự do giữa các đồng tiền chính nhằm cân đối các trạng thái dư thừa và thiếu hụt trong cán cân thương mại và cán cân dịch vụ; hơn nữa, các quỹ hưu trí cùng với các quỹ đầu tư khác ngày càng tăng đã tạo nên những nguồn tài chính sẵn sàng di chuyển đầu tư vào những đồng tiền khác nhau để tìm kiếm lợi nhuận cao nhất. Hơn nữa, những nhà đi vay tư nhân và xã hội cũng có xu hướng tìm kiếm các nguồn vốn bằng các đồng tiền khác nhau nhằm cho chi phí đi vay giảm xuống, do đó, các luồng vốn di chuyển từ đồng tiền này qua đồng tiền khác cũng ảnh hưởng đáng kể đến sự biến động của tỷ giá.
Trong khi cả hai nhóm nhu cầu đầu tư và nhu cầu đi vay tăng lên, các thị trường toàn cầu đã trải qua những biến động mạnh về lãi suất, khi lãi suất biến động lại làm tăng doanh số và mức độ thường xuyên chu chuyển các luồng vốn. Do giá dầu và giá các hàng hóa khác tăng lên mạnh mẽ, áp lực tăng lương, tăng tín dụng và tăng cung ứng tiền đã tạo áp lực tăng lạm phát, nhưng thái độ của các NHTW về việc chống lạm phát là rất khác nhau, do đó, mức lạm phát dự tính của mỗi đồng tiền cũng rất khác nhau. Vốn tư bản thường di chuyển đến đồng tiền nào có mức lãi suất hấp dẫn, nghĩa là đồng tiền có mức lãi suất thực dự tính cao nhất. Khi các luồng tiền chảy vào đồng tiền có lãi suất thực cao hơn, làm cho đồng tiền này lên giá rõ rệt.
Một điều cần chú ý là, sự hấp dẫn về mức lãi suất thực cao chỉ là tương đối và chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, do đó, khi mức lãi suất không còn hấp dẫn nữa thì các luồng vốn bắt đầu chảy ra và giá trị của đồng tiền người này sẽ giảm xuống nhanh chóng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Thứ ba, một nhân tố khác góp phần làm cho thị trường ngoại hối biến động là việc người nước ngoài càng ngày nắm giữ càng nhiều tài sản của mình bằng USD. Đồng USD là đồng tiền quốc tế được ưa chuộng nhất, do đó, sự biến động của nó sẽ ảnh hưởng lên sự biến động của hầu hết các đồng tiền khác. Trong khi lượng tài sản bằng USD do người nước ngoài nắm giữ đã góp phần làm tăng tổng phương tiện thanh toán quốc tế, nhưng đồng thời nó cũng làm tăng các khối lượng chu chuyển vốn quốc tế khi xuất hiện các chênh lệch về lãi suất giữa các đồng tiền và tồn tại các mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế.
Ví dụ, nếu thị trường dự tính giá trị USD sẽ giảm, thì hầu hết các thành viên tham gia thị trường có xu hướng bán các tài sản bằng USD.2 TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI 1.1 Tỷ giá hối đoái: 1.1 Khái niệm: Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng của mình. Thương mại, đầu tư và các quan hệ tài chính quốc tế… đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau. Thanh toán giữa các quốc gia dẫn đến việc trao đổi các đồng tiền khác nhau, đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia. Hai đồng tiền được trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này gọi là tỷ giá hay giá cả của đồng tiền này được biểu thị thông qua đồng tiền khác.
Vậy chúng ta có thể định nghĩa tỷ giá như sau: “Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác”.000 VND Trong ví dụ này, giá của USD được biểu thị thông qua VND, nghĩa là 1 USD có giá là 16. Trong thực tế, do hầu hết các quốc gia đều sử dụng phương pháp yết tỷ giá trực tiếp (xem phân loại tỷ giá), cho nên tỷ giá còn được hiểu theo cách nhìn thực tế như sau: “Tỷ giá là số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ”.2 Phân loại: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Trong thực tế chúng ta thường gặp một số loại tỷ giá sau đây: a) Tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra (Bid and Offer Exchange Rate): Tỷ giá mua vào là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá. Tỷ giá bán ra là tỷ giá, tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá. Tỷ giá mua vào là tỷ giá đứng trước và luôn thấp hơn tỷ giá bán ra.
Ví dụ: Ngân hàng Citibank yết giá EUR/USD = 1.4735 Trong đó: Tỷ giá đứng trước 1.4725 là tỷ giá mua EUR vào (tức bán USD), tỷ giá đứng sau 1.4735 là tỷ giá bán EUR ra. b) Tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn (Spot and Forward Exchange Rate): Tỷ giá giao ngay là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay, nhưng việc thực hiện thanh toán xảy ra vào ngày làm việc thứ hai sau ngày ký kết hợp đồng. Tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở lên. c) Tỷ giá tiền mặt và tỷ giá chuyển khoản (Banknote rate and Transaction Rate): Tỷ giá tiền mặt áp dụng cho ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch và thẻ tín dụng.
Tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại ngân hàng. Thông thường, tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản. d) Tỷ giá mở cửa và tỷ giá đóng cửa (Open and Closed Exchange Rate): Tỷ giá mở cửa là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày. Tỷ giá đóng cửa là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuối cùng trong ngày được giao dịch.
Thông thường, ngân hàng không công bố tất cả tỷ giá của tất cả các hợp đồng đã được ký kết trong ngày, mà chỉ công bố tỷ giá đóng cửa. Tỷ giá đóng cửa là một chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động tỷ giá trong ngày. Cần chú ý là tỷ giá đóng cửa ngày hôm nay không nhất thiết phải là tỷ giá mở cửa ngày hôm sau. e) Tỷ giá chính thức (Official Exchange Rate): Tỷ giá chính thức là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ.
Tỷ giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 chính thức được áp dụng làm cơ sở tính thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động liên quan đến ngoại hối của chính phủ như xác định nợ vay của chính phủ. Ngoài ra, ở Việt Nam tỷ giá chính thức (ngày nay là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng) là cơ sở để các ngân hàng thương mại xác định tỷ giá kinh doanh trong biên độ cho phép. f) Tỷ giá chợ đen (Black Market Exchange Rate): là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường này quyết định. g) Tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực (Nominal and Real Exchange Rate): Tỷ giá danh nghĩa là tỷ lệ trao đổi giữa các đồng tiền.
Tỷ giá thực phản ánh tương quan sức mua giữa hai đồng tiền trong tỷ giá. h) Tỷ giá trung bình (Effective Exchange Rate): Là tỷ giá đối với một rổ các đồng tiền, tương tự như chỉ số giá cả hàng hóa trung bình, được biểu diễn dưới dạng chỉ số. i) Tỷ giá chéo (Crossed Exchange Rate): Là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba (đồng tiền trung gian). j) Tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi (Fixed and Floating Exchange Rate): Tỷ giá cố định là tỷ giá do NHTW công bố cố định không thay đổi.
Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì được tỷ giá cố định, buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp. Tỷ giá thả nổi là tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối, NHTW không bắt buộc phải can thiệp.2 Hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng thương mại: Khác với hoạt động kinh doanh vốn dựa trên lãi suất, hoạt động kinh doanh ngoại hối dựa trên tỷ giá. Kinh doanh ngoại hối là một nghề rất khắc khe, đòi hỏi nhiều tố chất, trí tuệ và nỗ lực thường xuyên để theo dõi, nắm bắt và dự đoán những gì xảy ra trên thị trường và xem tỷ giá biến động theo hướng nào. Tính chất nghề nghiệp tạo ra công việc hầu như 24/24 giờ mỗi ngày.