Tổng quan nghiên cứu
Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam, đóng góp gần 71,7% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc với 175,5 tỷ USD vào năm 2018. Tại thành phố Hải Phòng, dòng vốn FDI chiếm xấp xỉ 30% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, thu hút hơn 350 dự án với tổng vốn đăng ký đạt gần 15 tỷ USD. Trong bức tranh đó, các doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước giữ vị trí tiên phong phát triển hạ tầng công nghiệp suốt hơn 25 năm qua. Tuy nhiên, sự đan xen phức tạp giữa vốn nhà nước và dòng vốn tư nhân quốc tế tạo ra những kẽ hở lớn về quản trị, làm gia tăng nguy cơ tham nhũng, thất thoát tài sản công và chuyển giá.
Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá thực trạng cơ chế phòng ngừa, phát hiện và xử trị tham nhũng tại các doanh nghiệp liên doanh do Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng trực tiếp làm đại diện chủ sở hữu. Đây là mô hình quản lý đặc thù duy nhất trên cả nước sau khi có chủ trương chuyển giao quyền đại diện vốn về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) theo Nghị quyết 60/2018/QH14. Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích các rủi ro tham nhũng thực tế và đề xuất bộ giải pháp quản trị liêm chính toàn diện.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 03 doanh nghiệp hạ tầng khu công nghiệp trọng điểm gồm Công ty Phát triển Khu công nghiệp Nomura - Hải Phòng (NHIZ), Công ty Cổ phần Khu công nghiệp Đình Vũ (DEEP C) và Công ty Liên doanh Khu công nghiệp Đồ Sơn (DSIZ) trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2020. Ý nghĩa của luận văn không chỉ góp phần bảo toàn nguồn vốn công ước tính hàng trăm tỷ đồng mà còn cải thiện trực tiếp chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và chỉ số hiệu quả quản trị hành chính công (PAPI) của Hải Phòng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp của hai lý thuyết nền tảng trong khoa học pháp lý và quản trị công. Thứ nhất là Lý thuyết Đại diện (Agency Theory), giải thích mối quan hệ bất đối xứng thông tin và xung đột lợi ích giữa cơ quan nhà nước với người đại diện phần vốn tại doanh nghiệp, nơi người đại diện có thể nhân danh chủ sở hữu nhà nước nhưng lại hành động vì lợi ích cá nhân hoặc thỏa hiệp với đối tác nước ngoài. Thứ hai là Lý thuyết Lựa chọn công (Public Choice Theory), phân tích hành vi của các chủ thể thực thi công quyền dưới góc độ tối đa hóa lợi ích cá nhân, từ đó chỉ ra động cơ phát sinh tham nhũng chính sách và nhũng nhiễu hành chính.
Mô hình nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm pháp lý then chốt gồm: Doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước; Người đại diện phần vốn nhà nước theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014; Hành vi tham nhũng khu vực ngoài nhà nước theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 với 3 hành vi cơ bản là tham ô tài sản, nhận hối lộ và đưa hoặc môi giới hối lộ; và Cơ chế kiểm soát nội bộ (Internal Control System) theo thông lệ quản trị quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo quản trị, hồ sơ kiểm toán độc lập của 3 doanh nghiệp liên doanh hạ tầng giai đoạn 1994-2020, cùng hệ thống dữ liệu tư pháp từ Thanh tra Chính phủ và Tòa án nhân dân. Nguồn dữ liệu sơ cấp được xây dựng qua cuộc điều tra xã hội học bằng bảng hỏi anket trên quy mô 150 phiếu khảo sát, đối tượng bao gồm 90 cán bộ công nhân viên trực tiếp (chiếm 60%), 37 chuyên viên quản lý nội bộ (chiếm 25%) và 23 chuyên gia quản lý nhà nước về FDI (chiếm 15%). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính khách quan và bao quát mọi vị trí việc làm.
Bên cạnh đó, tác giả tiến hành 03 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc với 01 lãnh đạo cơ quan thanh tra phòng chống tham nhũng, 01 lãnh đạo cơ quan quản lý khu kinh tế và 01 thành viên hội đồng quản trị đại diện doanh nghiệp liên doanh. Lý do lựa chọn kết hợp phân tích định lượng và định tính là nhằm kiểm chứng chéo giữa quy định pháp luật trên văn bản và thực tiễn vận hành quyền lực tại doanh nghiệp. Quá trình xử lý số liệu được triển khai xuyên suốt từ năm 2018 đến tháng 6 năm 2020, đảm bảo độ tin cậy khoa học cao.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tồn tại sự bất cân xứng nghiêm trọng giữa quy mô dự án và quyền kiểm soát thực tế của đại diện vốn nhà nước. Điển hình tại Công ty NHIZ, tổng vốn đầu tư đạt 140,03 triệu USD, vốn điều lệ là 41,296 triệu USD trong đó nhà nước góp 30% (tương đương 12,388 triệu USD bằng quyền sử dụng đất 153 ha). Dù dự án thu hút thành công 55 doanh nghiệp thứ cấp và xóa khoản nợ lũy kế 136 triệu USD vào năm 2019, phía nhà nước hầu như không có quyền quyết định trực tiếp các gói thầu dịch vụ hạ tầng do cơ chế biểu quyết đồng thuận tại hợp đồng liên doanh ban đầu.
Thứ hai, nguy cơ tham nhũng tập trung cao độ ở các khâu mua sắm, đấu thầu phụ và quản lý đất đai. Kết quả khảo sát 150 đối tượng cho thấy có tới 63% ý kiến nhận định rủi ro tiêu cực lớn nhất nằm ở hoạt động chỉ định thầu xây lắp hạ tầng và duy tu tiện ích khu công nghiệp. Tại DEEP C với tổng vốn đầu tư 79,144 triệu USD và diện tích 164 ha giai đoạn 1, phần vốn nhà nước chiếm 25% (khoảng 4,78 triệu USD) gặp nhiều thách thức trong việc thẩm định giá trị thực tế của các hợp đồng tư vấn kỹ thuật nước ngoài.
Thứ ba, sự thiếu đồng bộ trong nhận thức pháp luật về phòng chống tham nhũng khu vực tư. Dù 84% người được hỏi nhận biết được quy tắc ứng xử nội bộ của doanh nghiệp, chỉ có 31% hiểu rõ quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 về xử lý hình sự hành vi đưa và nhận hối lộ trong doanh nghiệp ngoài nhà nước theo Điều 353 và Điều 354 Bộ luật Hình sự.
Thứ tư, hiệu quả giám sát của người đại diện vốn còn hình thức. Có tới 72% chuyên gia đánh giá cơ chế báo cáo của người đại diện vốn nhà nước tại 3 liên doanh còn mang tính đối phó, thiếu công cụ kiểm tra độc lập các luồng tài chính phát sinh từ đối tác nước ngoài.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ sự giao thoa quyền sở hữu lai ghép giữa công và tư. Khi cơ quan hành chính can thiệp quá sâu sẽ làm mất tính tự chủ kinh doanh theo chuẩn quốc tế, nhưng khi buông lỏng thì nguy cơ thất thoát vốn công lập tức bộc lộ. So sánh với bức tranh tư pháp toàn quốc năm 2019 khi các cơ quan tố tụng khởi tố mới 214 vụ án với 487 bị can tham nhũng gây thiệt hại hơn 1.028 tỷ đồng và 22.069 m2 đất, các sai phạm tại doanh nghiệp liên doanh Hải Phòng không biểu hiện thành các vụ án tham ô thuần túy mà ẩn giấu dưới dạng nâng khống chi phí đầu vào, ký kết hợp đồng dịch vụ nội bộ giá cao để chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
Thực trạng phân bổ tỷ lệ vốn góp và rủi ro tham nhũng này có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước (dao động từ 25% đến 30%) với quyền phủ quyết trên thực tế, kết hợp bảng ma trận đo lường tần suất rủi ro tại 5 phòng ban trọng yếu gồm: phòng cung ứng, phòng kế toán tài chính, phòng pháp chế, phòng nhân sự và ban điều hành dự án.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện quy chế pháp lý và chuẩn hóa tiêu chuẩn bổ nhiệm người đại diện phần vốn nhà nước. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng cùng Sở Tài chính cần ban hành quy định bắt buộc đánh giá hiệu quả công việc dựa trên chỉ số quản trị liêm chính định kỳ 6 tháng một lần. Mục tiêu đặt ra là 100% người đại diện vốn phải hoàn thành khóa đào tạo chuyên sâu về nhận diện gian lận thương mại quốc tế trước quý 4 năm 2021.
Thứ hai, thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ độc lập và đường dây tiếp nhận tố giác ẩn danh. Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc tại 03 liên doanh Nomura, Đình Vũ và Đồ Sơn cần xây dựng cơ chế thẩm định giá độc lập cho toàn bộ các hợp đồng mua sắm hạ tầng có giá trị từ 5 tỷ đồng trở lên. Phấn đấu cắt giảm 40% nguy cơ xung đột lợi ích nội bộ trong giai đoạn 2021-2023.
Thứ ba, tăng cường thanh tra liên ngành và giám sát tài chính định kỳ. Thanh tra thành phố phối hợp cùng Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng và Cục Thuế tiến hành thanh tra chuyên đề 100% hồ sơ chuyển giá và định giá tài sản quyền sử dụng đất tại 6 doanh nghiệp liên doanh trên địa bàn thành phố trước năm 2024.
Thứ tư, tích hợp chuẩn mực minh bạch của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) vào quy chế doanh nghiệp. Ban điều hành các liên doanh phối hợp cùng Liên đoàn Lao động thành phố tổ chức phổ biến Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 cho ít nhất 95% cán bộ và người lao động hàng năm, gắn trách nhiệm phòng chống tham nhũng với thỏa ước lao động tập thể từ năm 2021 trở đi.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trực tiếp là Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng luận văn làm cẩm nang hoạch định chính sách phân cấp quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp FDI đặc thù, tránh nguy cơ thất thoát nguồn lực đất đai công.
Thứ hai, những cá nhân đảm nhiệm vai trò người đại diện phần vốn nhà nước và kiểm soát viên chuyên trách tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước. Luận văn cung cấp quy trình nhận diện rủi ro xung đột lợi ích, phương pháp đấu tranh bảo vệ quyền lợi cổ đông nhà nước trong các kỳ họp Hội đồng quản trị đa quốc gia.
Thứ ba, Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc và bộ phận pháp chế, tuân thủ của các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp FDI. Nghiên cứu mang lại khung tham chiếu chuẩn mực để xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ, tối ưu hóa chi phí vận hành phi chính thức và nâng cao uy tín thương hiệu trên trường quốc tế.
Thứ tư, các viện nghiên cứu, trường đại học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Hành chính và Quản trị công. Công trình là nguồn tư liệu thực chứng quý giá với các số liệu khảo sát chi tiết phục vụ giảng dạy chuyên đề phòng chống tham nhũng khu vực ngoài nhà nước.
Câu hỏi thường gặp
Thứ nhất, tại sao thành phố Hải Phòng vẫn duy trì quyền đại diện vốn nhà nước tại các doanh nghiệp liên doanh thay vì chuyển giao về SCIC?
Theo Công văn 4751/VPCP-ĐMDN ngày 14 tháng 6 năm 2016 của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho Hải Phòng tiếp tục đại diện vốn tại 6 liên doanh do tính chất đặc thù gắn liền với quyền sử dụng đất địa phương và các cam kết ràng buộc pháp lý chặt chẽ trong hợp đồng liên doanh quốc tế ban đầu.
Thứ hai, Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 mở rộng phạm vi điều chỉnh sang khu vực tư nhân như thế nào?
Luật đã chính thức chế tài 3 hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước gồm tham ô tài sản, nhận hối lộ và đưa hoặc môi giới hối lộ theo Điều 2. Các hành vi này bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 353 và Điều 354 Bộ luật Hình sự mà không phân biệt chủ thể công hay tư.
Thứ ba, liên doanh Khu công nghiệp Nomura - Hải Phòng (NHIZ) có đóng góp kinh tế và cơ cấu vốn cụ thể ra sao?
NHIZ thành lập năm 1994 với vốn điều lệ 41,296 triệu USD, trong đó nhà nước góp 30% bằng đất. Đến nay khu công nghiệp đã thu hút khoảng 1 tỷ USD vốn FDI, tạo 30.000 việc làm và xử lý dứt điểm khoản lỗ lũy kế 136 triệu USD vào tháng 7 năm 2019.
Thứ tư, những lĩnh vực nào trong doanh nghiệp liên doanh hạ tầng có rủi ro tham nhũng cao nhất?
Khảo sát thực tế chỉ ra 63% rủi ro tập trung vào khâu đấu thầu thi công hạ tầng kỹ thuật, nghiệm thu khối lượng xây lắp và ký kết các hợp đồng tiện ích độc quyền như xử lý nước thải công suất 6.000 m3 mỗi ngày hoặc cung ứng điện năng.
Thứ năm, người đại diện nắm giữ 25% đến 30% vốn làm thế nào để ngăn chặn hành vi tham nhũng của đa số cổ đông?
Người đại diện cần tận dụng quy chế biểu quyết nhất trí đối với các vấn đề trọng yếu quy định trong hợp đồng liên doanh, đồng thời yêu cầu kiểm toán quốc tế độc lập và báo cáo kịp thời các bất thường cho cơ quan chủ sở hữu cấp trên.
Kết luận
- Luận văn đã giải quyết toàn diện bài toán lý luận và thực tiễn về phòng, chống tham nhũng tại các doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước do Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng làm đại diện chủ sở hữu.
- Dữ liệu thực chứng từ 150 phiếu điều tra và 03 phỏng vấn sâu khẳng định tính cấp thiết của việc kiểm soát quyền lực tại các doanh nghiệp hạ tầng như NHIZ, DEEP C và DSIZ.
- Công trình đã chỉ rõ 4 phát hiện then chốt về nguy cơ thất thoát vốn công và bất cập trong cơ chế giám sát người đại diện phần vốn nhà nước.
- Hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao được đề xuất với mốc lộ trình cụ thể từ năm 2021 đến năm 2024, gắn liền với các chỉ số đo lường hiệu quả rõ ràng.
- Đóng góp khoa học của luận văn là tài liệu tham khảo đặc biệt giá trị để thành phố Hải Phòng hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa trước năm 2025 theo Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị, mở ra hướng nghiên cứu mới cho công tác quản trị liêm chính trong khối doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.