Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Phong cách tản văn báo chí của Ngô Tất Tố" của nghiên cứu sinh Nguyễn Bùi Khiêm thuộc chuyên ngành Báo chí học (Mã số: 9.01), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS, TS. Tạ Ngọc Tấn tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội, 2019).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngô Tất Tố là nhà văn, nhà báo lớn trong lịch sử văn học và báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, hoạt động năng động trên nhiều lĩnh vực sáng tác, khảo cứu và dịch thuật. Thống kê của tác giả luận án chỉ ra rằng đã có khoảng 400 công trình nghiên cứu, bài báo, khóa luận, luận văn, luận án tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Tuy nhiên, phần lớn các công trình tập trung vào mảng văn học (đặc biệt là tiểu thuyết Tắt đèn), trong khi di sản báo chí vẫn chưa được nghiên cứu tương xứng.

Trước đây, đa số các công trình chỉ dựa trên cơ sở khảo sát khoảng hơn 100 tác phẩm báo chí được tuyển chọn công bố từ năm 1975. Trong khi đó, các đợt sưu tầm tư liệu sau này đã xác định được khoảng 1.350 tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố đăng trên các báo từ năm 1926 đến năm 1945 (tiêu biểu là việc hợp tuyển trong cuốn Tổng tập tản văn Ngô Tất Tố năm 2011). Thể loại tản văn - thể loại chứa đựng rõ nét phong cách tác giả - vẫn còn là một khoảng trống lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, hệ thống hóa và lý giải thỏa đáng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa và phát triển lý thuyết về tản văn báo chí và phong cách tản văn báo chí, luận án đi sâu phân tích để nhận diện phong cách tản văn báo chí của Ngô Tất Tố qua nội dung, hình thức kết cấu và ngôn ngữ; từ đó rút ra ý nghĩa và các bài học nghiệp vụ làm báo.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận văn học, lý luận báo chí liên quan đến tản văn, tản văn báo chí; phong cách và phong cách tản văn báo chí.
    2. Tổng hợp, phân tích và đánh giá tản văn báo chí của Ngô Tất Tố, qua đó làm rõ đặc điểm phong cách tản văn báo chí của ông.
    3. Đúc kết những bài học thiết thực cho hoạt động nghiệp vụ báo chí đương đại từ thực tiễn hoạt động và sáng tạo của tác giả.
    4. Đề xuất những vấn đề cần tiếp tục giải quyết, nghiên cứu.

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Những tìm tòi thể nghiệm về tản văn báo chí là những đóng góp của Ngô Tất Tố trong tiến trình vận động và phát triển của báo chí Việt Nam.
  2. Ngô Tất Tố là một trí thức cựu học, làm báo trong bối cảnh giao thoa văn hóa Đông - Tây với những biến động chính trị - xã hội trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; đó là những nhân tố hình thành phong cách tản văn báo chí của ông.
  3. Phong cách tản văn báo chí của Ngô Tất Tố có ý nghĩa lịch sử đối với báo chí Việt Nam và mang lại những bài học ích dụng đối với lao động nghề báo hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Phong cách tản văn báo chí của Ngô Tất Tố trên cả phương diện nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện thông qua hệ thống tư liệu tác phẩm báo chí của ông.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi tư liệu: Khảo sát các tác phẩm tản văn báo chí của Ngô Tất Tố được in trong Tổng tập tản văn Ngô Tất Tố, Ngô Tất Tố tiểu phẩm báo chí, Ngô Tất Tố tác phẩm và các bài báo đăng trước năm 1945 tiếp cận được tại Thư viện Quốc gia, Viện Văn học, Thư viện Hà Nội và Thư viện Học viện Báo chí và Tuyên truyền (trong đó có mẫu khảo sát cụ thể gồm 1.147 tác phẩm).
    • Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn hoạt động báo chí trước Cách mạng tháng Tám (1926 - 1945).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu về Ngô Tất Tố theo ba giai đoạn lịch sử và mảng nghiên cứu quốc tế:

Giai đoạn trước năm 1945

  • Phan Khôi (1929): Trên báo Thần Chung, khi đọc các bài thơ ký tên N. (Thú quê, Buổi chiều qua sông, Nghe gà gáy cảm hoài), Phan Khôi là người đầu tiên nhận xét phong cách của Ngô Tất Tố: người có chí khí, từng trải giang hồ, "ý kín mà không tối, khí mạnh mà dằn".
  • Vũ Trọng Phụng (1939): Trong bài giới thiệu tiểu thuyết Tắt đèn do nhà sách Mai Lĩnh xuất bản, nhận xét Ngô Tất Tố là nhà báo thuộc "phái Nho học", một tay ngôn luận xuất sắc với các bài đại luận khảo cứu, bút chiến, phê bình từ thời An Nam tạp chí.
  • Trần Minh Tước (1939): Trên báo Mới, khẳng định ngòi bút của Ngô Tất Tố đã vượt qua tư tưởng "điền viên vui thú" và "cải lương hương chính", tiếp cận luồng tư tưởng tiến bộ xã hội của K. Marx.
  • Phú Hương (1939): Trên báo Đông phương, chỉ ra sự kết hợp giữa kỹ thuật kết cấu văn xuôi chịu ảnh hưởng phương Tây với phong cách kể chuyện liên hoàn đậm chất Á Đông và Hán học.
  • Vũ Ngọc Phan (1942 - 1945): Trong bộ Nhà văn hiện đại, xếp Ngô Tất Tố vào hàng nhà Nho có óc phê bình mới, cách đặt câu dùng nhiều chữ "được", "bằng", "bị" rất Tây; phân chia tác phẩm báo chí của ông thành loại "bút chiến" (đả kích tệ quan lại, cường hào, tư sản hoặc châm biếm như mục "Nói mà chơi") và loại "phóng sự, tiểu thuyết".

Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985

  • Thời kỳ 1945 - 1959: Nguyên Hồng (1954) nhấn mạnh ngòi bút dũng cảm, nhìn thẳng sự thật; Hà Xuân Trường (1956) khẳng định nghệ thuật châm biếm chua xót, sâu cay; Nguyễn Công Hoan (1956) nhận xét cách hành văn mới mẻ kiểu "Âu hóa"; Thế Phong (1959, tại Sài Gòn trong Những nhà văn tiền chiến 1930 - 1945) xem ông là cây bút "bình cũ rượu mới", uyên bác Nho học kết hợp lối viết hiện đại.
  • Thời kỳ 1960 - 1974: Nguyễn Công Hoan (1961) cho rằng lối văn ông gần văn học Trung Quốc; Nguyễn Đức Đàn (1961) nhấn mạnh phẩm chất cách mạng và tính vị nhân sinh; Nguyễn Tuân (1962) phân định sự nghiệp thành sáng tác, luận bình, bút chiến và dịch thuật; Nguyễn Đức Đàn và Phan Cự Đệ (1962) phân tích loại văn "Nói mà chơi" (tiểu phẩm) và so sánh với Lỗ Tấn giai đoạn trước 1927 trên 4 phương diện (điển hình hóa, tính hình tượng, nghệ thuật châm biếm, ngôn ngữ); Nguyễn Đức Bính (1962) định danh Ngô Tất Tố là nhà viết "tạp văn" (tiểu phẩm); Nguyễn Đăng Mạnh (1973); Vũ Bằng (1973, Bốn mươi năm nói láo) đánh giá cao nghệ thuật viết "phim hàng ngày" trên các báo Tương lai, Công dân.
  • Thời kỳ 1975 - 1985: Phan Cự Đệ (1975, bộ sách 2 tập Ngô Tất Tố - tác phẩm) tuyển chọn và giới thiệu 112 tác phẩm báo chí (1929 - 1943); Lê Thị Đức Hạnh (1983) phân tích 5 khía cạnh nghệ thuật trong tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố.

Giai đoạn từ năm 1986 đến nay

  • Hội thảo kỷ niệm 100 năm ngày sinh Ngô Tất Tố (1993): Các bài nghiên cứu của Phan Quang (so sánh tiểu phẩm Ngô Tất Tố với Lỗ Tấn, chỉ ra phong cách viết sắc bén), Trương Chính (phân tích nguồn gốc tiểu phẩm từ "tạp trở", ảnh hưởng từ Tản Đà), Phong Lê, Vũ Tú Nam, Vương Trí Nhàn.
  • Các nghiên cứu chuyên sâu: Hà Minh Đức (1998, Tiểu phẩm văn học và báo chí của Ngô Tất Tố); Tạ Ngọc Tấn (2000, Tiểu phẩm báo chí Hồ Chí Minh); Nguyễn Đức Dũng; Đề tài khoa học cấp thành phố Hà Nội do Phan Cự Đệ chủ nhiệm (nghiệm thu 2004) khảo sát 1.350 tác phẩm báo chí; cuốn Tổng tập tản văn Ngô Tất Tố (2011).
  • Các luận án tiến sĩ liên quan: Trần Văn Hiếu (1999), Phạm Mạnh Hùng (2001), Trần Thị Phương Lan (2008), Thành Đức Bảo Thắng (2013).
  • Các luận văn thạc sĩ: Dương Văn An (2009), Nguyễn Thị Huệ (2012), Trần Văn Dững (1997), Phan Thị Mỹ Hạnh (2007), Bế Hùng Hậu (2010), Đinh An Phong (2015).

Nghiên cứu ở nước ngoài

  • Georges Boudarel (G. Budaren, Pháp): Tại Hội thảo quốc tế ở Đại học Harvard (1982) và trong chuyên đề Một nhà dân tộc học được đào tạo bằng thực tiễn quần chúng (sách Tín ngưỡng dân gian và các xã hội châu Á), nhận định Ngô Tất Tố như một nhà dân tộc học qua phóng sự Việc làng và báo chí, đổi bút nghiên nhà Nho lấy phong cách viết hiện đại, chịu ảnh hưởng câu bị động tiếng Pháp.
  • Hoàng Khả Hưng (Đại học Dân tộc Quảng Tây, Trung Quốc): Nghiên cứu chuyên đề Những kết tinh văn hóa Nho giáo trong sáng tác của Ngô Tất Tố.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án chỉ ra rằng hầu hết các công trình trước đây chỉ khảo sát trên diện hẹp (khoảng hơn 100 bài báo được chọn in từ năm 1975), tiếp cận chủ yếu dưới góc độ văn học hoặc nghiên cứu từng tác phẩm đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về phong cách thể loại tản văn báo chí của Ngô Tất Tố trên diện rộng với nguồn tư liệu đầy đủ hơn 1.000 tác phẩm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Quan điểm nền tảng: Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, các nguyên tắc sáng tạo tác phẩm báo chí.
  • Lý thuyết thể loại văn học và báo chí: Tiếp thu hệ thống phân loại thể loại của các nhà nghiên cứu:
    • Tạ Ngọc Tấn: Phân loại tác phẩm báo chí thành ba nhóm: thông tấn, chính luận và chính luận nghệ thuật (trong đó tản văn, tiểu phẩm thuộc nhóm chính luận nghệ thuật với đặc trưng kết hợp thông tin sự kiện với thủ pháp văn học).
    • Đinh Văn Hường: Khung 5 tiêu chí nhận diện thể loại báo chí.
    • Phạm Thành Hưng: Thuật ngữ báo chí truyền thông, xem tản văn là khái niệm dung hòa các đường biên thể loại, phát triển mạnh nhờ báo chí.
    • Trần Đình Sử, Lỗ Tấn, Lưu Hiệp (Văn tâm điêu long), Đàm Gia Kiện, Tạ Quốc Tuấn: Lý luận về tản văn, tạp văn, tiểu phẩm, feuilleton và essai.
  • Lý thuyết về phong cách: Khái niệm phong cách từ Buffon ("Phong cách chính là bản thân con người"), lý thuyết phong cách học Liên Xô (M. Khrapchenko, A. Gulaiep), Trung Quốc (Lưu Hiệp, Lỗ Tấn) và các giáo trình phong cách học tiếng Việt (Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Võ Bình, Nguyễn Thái Hòa, Nguyễn Nguyên Trứ).
  • Định nghĩa tản văn báo chí của luận án: Tác giả xác định tản văn báo chí là loại tác phẩm ngắn gọn, gắn với môi sinh báo chí, mang tính tư tưởng sắc bén, dung nạp phẩm chất của tạp văn, tiểu phẩm, tiểu luận; đặc trưng bởi sự hiện diện trực tiếp của cái tôi tác giả, tính linh hoạt trong kết cấu và sự dung hợp giữa bút pháp nghệ thuật với văn phong thông tấn khách quan.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu văn bản chuyên ngành:

  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Xem xét phong cách tác giả trong môi sinh văn hóa, xã hội và bối cảnh thời cuộc từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945.
  • Phương pháp hệ thống: Đặt tản văn báo chí của Ngô Tất Tố trong toàn bộ sự nghiệp sáng tạo của ông và tiến trình phát triển của báo chí Việt Nam trước 1945.
  • Phương pháp nghiên cứu nội dung: Phân tích sâu các tầng nội dung, chủ đề, chi tiết và thông điệp tư tưởng của tác phẩm.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức báo chí học với văn học, ngôn ngữ học, lịch sử, tâm lý và xã hội học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn sơ cấp: Khảo sát các ấn phẩm Tổng tập tản văn Ngô Tất Tố, Ngô Tất Tố tác phẩm, Tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố, cùng các báo, tạp chí trước năm 1945 lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, Viện Văn học, Thư viện Hà Nội và Thư viện Học viện Báo chí và Tuyên truyền (khảo sát trực tiếp mẫu gồm 1.147 tác phẩm).
  • Nguồn thứ cấp: Các tài liệu lý luận báo chí, lý luận văn học, lịch sử báo chí, hồi ký của các nhà báo và công trình nghiên cứu chuyên môn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về tản văn và phong cách tản văn báo chí

  • Mối quan hệ văn học và báo chí: Làm rõ bản chất của hiện tượng "văn - báo bất phân" trong lịch sử báo chí Việt Nam. Văn học lấy con người làm trung tâm thông qua hình tượng nghệ thuật và thông tin thẩm mỹ; báo chí phản ánh sự kiện xác thực dưới áp lực thời sự. Tản văn báo chí nằm ở miền giao thoa, kết hợp tính thời sự, tính thông tin với phương tiện biểu đạt giàu hình ảnh của văn học.
  • Hệ thống thể loại: Phân định các quan niệm về thể loại văn học (phi hư cấu, tản văn) và thể loại báo chí (thông tấn, chính luận, chính luận nghệ thuật). Đối sánh các khái niệm tản văn, tạp văn, tiểu phẩm, feuilleton, essai trong lý luận phương Đông và phương Tây.
  • Khái niệm và đặc trưng tản văn báo chí: Xác lập định nghĩa tản văn báo chí; phân tích các đặc trưng cơ bản: dung lượng ngắn gọn, tính chiến đấu, sự hiện diện trực tiếp của cái tôi tác giả, tính tự do trong tổ chức kết cấu và sự hòa quyện giữa thông tin thực tế với tư duy hình tượng.
  • Nhân tố chi phối phong cách Ngô Tất Tố: Phân tích ba nhân tố cốt lõi: (1) Nền tảng học vấn Nho học uyên bác và cốt cách nhà Nho tiến bộ; (2) Sự tiếp thu văn hóa, tư duy duy lý và kỹ thuật viết báo phương Tây; (3) Bối cảnh lịch sử - xã hội biến động sâu sắc của Việt Nam giai đoạn thuộc địa nửa phong kiến trước năm 1945.

Chương 2: Phong cách tản văn báo chí của Ngô Tất Tố qua bình diện nội dung tác phẩm

  • Bình diện đề tài: Tản văn của Ngô Tất Tố bao quát bức tranh xã hội phong phú:
    • Phê phán những hủ tục, tệ nạn chốn thôn quê và chế độ hương ẩm lạc hậu.
    • Vạch trần bản chất áp bức, tham nhũng, giả dối của bộ máy quan lại tay sai và chính quyền thực dân.
    • Bảo vệ quyền lợi, phản ánh nỗi thống khổ của các tầng lớp cần lao (nông dân, thị dân nghèo).
    • Bình luận các vấn đề thế sự, thời cuộc, văn hóa, giáo dục và trào lưu chính trị đương thời.
  • Nghệ thuật sử dụng chi tiết: Tác giả khai thác các chi tiết đời thường, có thực, cụ thể nhưng mang tính điển hình cao. Từ những mẩu chuyện tưởng như vụn vặt, ngòi bút của ông khái quát thành những vấn đề xã hội sâu rộng.
  • Khả năng dự báo xã hội: Các tác phẩm thể hiện tư duy nhạy bén, đưa ra các phân tích, nhận định chính xác về xu thế thời cuộc, sự phá sản của các chính sách mị dân và sự biến chuyển tất yếu của hoàn cảnh xã hội.

Chương 3: Phong cách tản văn báo chí của Ngô Tất Tố qua bình diện hình thức và kết cấu tác phẩm

  • Phong cách đặt đầu đề: Tác giả sử dụng cách đặt đầu đề đa dạng, ngắn gọn, trực diện, gợi tò mò hoặc mang tính đối thoại, châm biếm sâu sắc.
  • Sức sáng tạo trong kết cấu: Kết cấu tác phẩm linh hoạt, phá cách; lối vào đề nhanh gọn "như mũi tên lao thẳng vào đích", phát triển lập luận mạch lạc, kết thúc bất ngờ để lại dư âm suy ngẫm cho người đọc.
  • Sức thuyết phục logic: Kết hợp chặt chẽ giữa tư duy logic phương Tây và nghệ thuật lập luận tương phản, đòn bẩy phương Đông. Cách lập luận vừa đùa vui, vừa đanh thép, đưa ra chứng cứ xác thực khiến đối phương không thể bác bỏ.
STT Tên bảng thống kê trong luận án Nội dung dữ liệu phản ánh
1 Bảng 3. Bảng so sánh độ dài của đầu đề tản văn báo chí của Ngô Tất Tố, theo từng tờ báo và từng năm từ năm 1928 đến năm 1945 Phân tích biến đổi độ dài tiêu đề bài viết qua các cơ quan báo chí và giai đoạn sáng tác
2 Bảng thống kê độ dài của đầu đề tản văn báo chí của Ngô Tất Tố Khảo sát định lượng trên tổng số 1.147 tác phẩm báo chí
3 Bảng phân tích thành ngữ sử dụng trong tản văn báo chí của Ngô Tất Tố (tr. 116) Thống kê, phân loại các dạng thức thành ngữ dân gian và Hán - Việt trong tác phẩm

Chương 4: Phong cách ngôn ngữ tản văn báo chí của Ngô Tất Tố

  • Sử dụng linh hoạt nhiều lớp từ:
    • Vận dụng vốn từ Hán - Việt chuẩn xác, hàm súc, không lạm dụng hay phô trương chữ nghĩa.
    • Khai thác phong phú lớp từ khẩu ngữ, từ ngữ dân gian đời thường, mang đậm hơi thở làng quê Bắc Bộ.
    • Sử dụng sáng tạo các từ ngữ hiện đại tiếp thu từ tiếng Pháp, cấu trúc câu bị động phù hợp với ngữ cảnh báo chí mới.
  • Sáng tạo trong sử dụng các tình thức biểu cảm: Biến hóa linh hoạt các dạng câu hỏi tu từ, câu cảm thán, đan xen nhịp điệu nhanh - chậm, tạo nên giọng điệu đàm thoại gần gũi, tự nhiên như đang trò chuyện trực tiếp với độc giả.
  • Ngôn ngữ trào phúng, châm biếm giàu tính chiến đấu: Kết hợp nhuần nhuyễn thành ngữ, tục ngữ, ca dao, điển tích văn học với lối chơi chữ, ngoa dụ, tương phản để tạo ra tiếng cười đả kích từ mỉa mai nhẹ nhàng đến gay gắt, quyết liệt.

Chương 5: Ý nghĩa và một số bài học về nghiệp vụ làm báo rút ra từ kết quả nghiên cứu phong cách tản văn báo chí của Ngô Tất Tố

  • Ý nghĩa thực tiễn: Khẳng định đóng góp của Ngô Tất Tố đối với sự phát triển của thể loại tản văn báo chí và tiến trình hiện đại hóa ngôn ngữ báo chí tiếng Việt nửa đầu thế kỷ XX; khẳng định vị thế của báo chí cách mạng và tiến bộ trước năm 1945.
  • Một số bài học về nghiệp vụ làm báo:
    • Bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp: Giữ vững lập trường đứng về phía quần chúng nhân dân, tôn trọng sự thật khách quan, dũng cảm đấu tranh với cái xấu, tiêu cực.
    • Tích lũy vốn văn hóa và vốn sống: Kết hợp nhuần nhuyễn tri thức văn hóa truyền thống dân tộc với tư duy hiện đại, am hiểu sâu sắc thực tế đời sống.
    • Kỹ năng xử lý thể loại và kết cấu: Kỹ thuật lựa chọn chi tiết đắt giá, xây dựng lập luận sắc bén, súc tích trong một dung lượng ngắn.
    • Nghệ thuật sử dụng ngôn từ: Rèn luyện cách hành văn trong sáng, giàu sắc thái biểu cảm, linh hoạt và gần gũi với công chúng tiếp nhận.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án tổng hợp và hệ thống hóa các quan điểm lý luận về thể loại tản văn, tạp văn, tiểu phẩm trong và ngoài nước; xác lập khái niệm và các đặc trưng cơ bản của thể loại tản văn báo chí trong hệ thống thể loại báo chí học Việt Nam.
  • Làm rõ vị trí của tản văn báo chí như một thể loại chính luận nghệ thuật đặc thù, góp phần khơi mở và hoàn thiện khoảng trống lý luận về thể loại này.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khảo sát toàn diện, có hệ thống phong cách tản văn báo chí của Ngô Tất Tố trên nguồn ngữ liệu lớn (khảo sát trực tiếp mẫu 1.147 bài trên tổng số khoảng 1.350 tác phẩm được công bố).
  • Khẳng định vị thế và đóng góp của Ngô Tất Tố trong lịch sử báo chí Việt Nam: một nhà báo cựu học đã dung hợp xuất sắc tư duy truyền thống với phương pháp làm báo hiện đại phương Tây.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo khoa học phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, biên soạn giáo trình trong các cơ sở đào tạo chuyên ngành báo chí - truyền thông.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đưa nội dung nghiên cứu và sáng tác tản văn báo chí vào chương trình đào tạo nghiệp vụ báo chí chính luận nghệ thuật tại các trường đại học.
  • Tiếp tục đẩy mạnh công tác sưu tầm, bảo tồn, số hóa các di sản báo chí Việt Nam giai đoạn trước năm 1945.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tư liệu báo chí xuất bản trước năm 1945 trải qua nhiều biến động lịch sử, một số ấn phẩm có thể còn thất lạc hoặc chưa được sưu tầm trọn vẹn; việc xác minh toàn bộ các bút danh của tác giả trên các tờ báo thời kỳ này vẫn còn những giới hạn nhất định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục truy tìm, thẩm định các bài báo chưa được phát hiện của Ngô Tất Tố trên các ấn phẩm báo chí giai đoạn 1926 - 1945.
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh phong cách tản văn báo chí của Ngô Tất Tố với các cây bút tiểu phẩm, tạp văn tiêu biểu cùng thời ở Việt Nam và trong khu vực (như Lỗ Tấn ở Trung Quốc).

Giá trị tham khảo

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo phương pháp tiếp cận liên ngành (báo chí - văn học - ngôn ngữ), khung phân tích phong cách tác giả báo chí và kỹ thuật xử lý dữ liệu báo chí lịch sử.
  • Giảng viên các cơ sở đào tạo báo chí - truyền thông: Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các môn học: Lịch sử báo chí Việt Nam, Lý luận thể loại báo chí, Tác phẩm báo chí chính luận, Ngôn ngữ báo chí.
  • Nhà báo, phóng viên, người viết tản văn, tiểu phẩm: Rút ra những bài học nghiệp vụ về nghệ thuật đặt tiêu đề, phương pháp chọn lọc chi tiết, kỹ năng lập luận logic và cách sử dụng tiếng cười châm biếm trong sáng tạo báo chí hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa tản văn báo chí như thế nào?
Luận án xác định tản văn báo chí là loại tác phẩm có dung lượng ngắn gọn, gắn với môi sinh báo chí, mang tính tư tưởng sắc bén, dung nạp phẩm chất của tạp văn, tiểu phẩm, tiểu luận; đặc trưng bởi sự hiện diện trực tiếp của cái tôi tác giả, tính linh hoạt trong kết cấu và sự kết hợp giữa ngôn ngữ nghệ thuật với văn phong thông tấn khách quan.

2. Quy mô tư liệu khảo sát của luận án là bao nhiêu tác phẩm?
Luận án tiếp cận trên tổng số khoảng 1.350 tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố giai đoạn 1926 - 1945 (đã được tập hợp trong Tổng tập tản văn Ngô Tất Tố năm 2011) và tiến hành khảo sát, thống kê cụ thể trên mẫu gồm 1.147 tác phẩm.

3. Ba nhân tố chính hình thành nên phong cách tản văn báo chí Ngô Tất Tố là gì?
Ba nhân tố gồm: nền tảng Nho học uyên bác cùng cốt cách nhà Nho tiến bộ; sự tiếp thu tri thức, tư duy duy lý và lối viết báo phương Tây; và bối cảnh lịch sử - xã hội biến động sâu sắc của xã hội thuộc địa nửa phong kiến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

4. Vì sao các nghiên cứu trước năm 2004 chưa phản ánh đầy đủ di sản báo chí của Ngô Tất Tố?
Bởi vì phần lớn các công trình trước đây chỉ dựa trên tập hợp khoảng hơn 100 tác phẩm báo chí được tuyển chọn công bố từ năm 1975 và chủ yếu tập trung nghiên cứu sự nghiệp văn chương qua tiểu thuyết Tắt đèn, chưa bao quát được toàn bộ 1.350 bài báo được xác định sau này.

5. Luận án phân tích phong cách tản văn báo chí của Ngô Tất Tố qua những bình diện cụ thể nào?
Luận án phân tích phong cách qua 3 bình diện chính tương ứng với các chương: bình diện nội dung tác phẩm (Chương 2), bình diện hình thức và kết cấu tác phẩm (Chương 3), và bình diện ngôn ngữ tác phẩm (Chương 4).


Kết luận

Luận án "Phong cách tản văn báo chí của Ngô Tất Tố" của tác giả Nguyễn Bùi Khiêm là công trình nghiên cứu chuyên sâu về di sản báo chí của Ngô Tất Tố trên nguồn ngữ liệu hơn 1.000 tác phẩm trước năm 1945. Luận án đã hệ thống hóa lý luận về thể loại tản văn báo chí, đồng thời nhận diện toàn diện phong cách tác giả trên các bình diện nội dung, kết cấu và ngôn ngữ trào phúng sắc bén. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị thế của Ngô Tất Tố như một cây bút tiêu biểu dung hợp tri thức Nho học với kỹ thuật báo chí hiện đại, đem lại nhiều giá trị khoa học và bài học nghiệp vụ thiết thực cho hoạt động báo chí đương đại.