Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp thuộc chuyên ngành Báo chí học, tập trung nghiên cứu hoạt động truyền thông về môi trường trên báo mạng điện tử tại Việt Nam. Vấn đề nghiên cứu xuất phát từ thực trạng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đang diễn ra nghiêm trọng, tạo ra những thách thức lớn đối với phát triển bền vững. Thực tiễn tại Việt Nam ghi nhận hàng loạt vụ việc vi phạm môi trường như: Công ty Cổ phần Môi trường Đồng Xanh chôn lấp nước thải tại phường Trảng Dài (thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai), tình trạng đổ trộm 50 tấn chất thải công nghiệp tại khu phố 3 phường Long Bình (thành phố Biên Hòa), cùng các dự án gây lo ngại về tác động sinh thái như dự án cải tạo cảnh quan lấn sông Đồng Nai hay dự án thay thế 6.700 cây xanh tại Hà Nội. Trong bối cảnh đó, báo chí giữ vai trò tạo lập dư luận, giám sát xã hội và thúc đẩy cơ quan quản lý vào cuộc.

Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị đã xác định công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường là giải pháp hàng đầu. Sự phát triển của báo mạng điện tử, tiêu biểu là Báo điện tử VnExpress (cùng với Vietnamnet và Dân trí), đã hình thành một kênh cung cấp thông tin thời sự nhanh chóng cho đông đảo độc giả. Mặc dù báo chí đã phản ánh các điểm nóng ô nhiễm thứ phát (chất thải công nghiệp, khai thác khoáng sản), nhưng nguồn ô nhiễm nguyên phát (thói quen sinh hoạt, lạm dụng túi ni lông, thuốc bảo vệ thực vật) vẫn chưa được tuyên truyền đầy đủ. Đề tài khảo sát toàn diện báo VnExpress để đánh giá thực trạng thông tin môi trường trên báo mạng điện tử.

Mục đích nghiên cứu của tác giả là thông qua việc đánh giá công tác truyền thông của báo mạng điện tử nói chung và báo VnExpress nói riêng đối với công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam, đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền.

Để thực hiện mục đích trên, nghiên cứu triển khai 6 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu lý luận báo chí để làm rõ vai trò của báo chí và báo mạng điện tử trong việc bảo vệ môi trường.
  2. Khảo sát các bài viết về môi trường trên báo VnExpress trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/04/2015.
  3. Khảo sát, thống kê, phân loại các tác phẩm báo chí liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
  4. Điều tra nhu cầu và thực trạng tiếp nhận thông tin của độc giả báo VnExpress về vấn đề môi trường.
  5. Đánh giá các nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến thành công và hạn chế trong công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường trên báo VnExpress.
  6. Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường của báo VnExpress.

Đối tượng nghiên cứu là Báo điện tử VnExpress với công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các tác phẩm có đề tài về môi trường đăng tải trên tất cả các chuyên mục của báo điện tử VnExpress từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/04/2015, kết hợp khảo sát trực tiếp các tác phẩm tiêu biểu và tài liệu tham khảo liên quan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng trên nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương của Đảng và quy định pháp luật của Nhà nước Việt Nam (Điều 29 Hiến pháp năm 1992, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 gồm 15 chương, 136 điều có hiệu lực từ ngày 01/07/2006). Tác giả tiếp cận các khái niệm học thuật về môi trường từ UNESCO (năm 1981), Từ điển tiếng Việt (năm 2006), giáo trình Cơ sở khoa học môi trường của Lưu Đức Hải (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005), Giáo trình môi trường và con người của Lê Thị Thanh Mai (NXB Đại học Giáo dục TP.HCM, 2005) và tài liệu Nhà báo môi trường thời toàn cầu hóa của Diễn đàn các nhà báo môi trường Việt Nam (NXB Hà Nội, 2005).

Về lý luận truyền thông, nghiên cứu vận dụng mô hình cơ chế tác động của thông tin báo chí trong cuốn Truyền thông - lý thuyết và kĩ năng cơ bản (PGS. Nguyễn Văn Dững chủ biên, TS. Đỗ Thị Thu Hằng biên soạn). Cơ chế tác động diễn ra qua chu trình: Chủ thể phát thông điệp -> Truyền tải qua phương tiện -> Tác động vào ý thức xã hội -> Dẫn đến hành vi xã hội -> Tạo ra hiệu quả xã hội. Quá trình tiếp nhận của công chúng trải qua 5 bước: tiền đề nhận thức, sự quan tâm, sự đánh giá nguồn tin, thử nghiệm thực tế hoặc tưởng tượng, chấp nhận và điều chỉnh hành vi. Nghiên cứu cũng kế thừa các công trình của Vũ Đình Hòe (năm 2000), luận văn thạc sĩ của Mai Thị Dung (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2006) và kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế giữa Học viện Báo chí và Tuyên truyền với Viện Friedrich Ebert (tháng 06/2009).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Khảo sát, thống kê, phân loại văn bản: Thu thập toàn bộ 250 tác phẩm viết về môi trường trên báo VnExpress trong 4 tháng khảo sát; phân loại định lượng theo chuyên mục, thời gian, chủ đề và thể loại báo chí.
  • Phân tích nội dung và hình thức văn bản: Đánh giá chất lượng thông tin, kết cấu bài viết, tít, sapo, dung lượng chữ và mức độ ứng dụng các yếu tố đa phương tiện (ảnh chụp, phóng sự ảnh, video clip, đồ họa tĩnh/động).
  • Phỏng vấn sâu: Thực hiện đối với phóng viên báo chí, người dân và cán bộ cơ quan quản lý nhà nước về môi trường.
  • Quan sát tác nghiệp: Quan sát quy trình tổ chức sản xuất tin bài tại tòa soạn VnExpress.
  • Khảo sát tương tác trực tuyến: Khảo sát phản hồi của công chúng thông qua hệ thống bình luận (comment) dưới các bài báo và diễn đàn trực tuyến của báo VnExpress.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc báo chí tham gia vào công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về môi trường, bảo vệ môi trường, ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường; phân định giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo. Tác giả phân tích bức cảnh môi trường toàn cầu với các số liệu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) tại Hội nghị COP15 (Copenhagen, 2009), ghi nhận nhiệt độ Trái Đất tăng 0,74 độ C do phát thải khí nhà kính. Tại Việt Nam, hoạt động nông nghiệp phát thải khí Mêtan chiếm gần 50% tổng lượng khí nhà kính quốc gia. Chương này dẫn chứng Chỉ số Phát triển Bền vững Môi trường (ESI) năm 2005 của Liên Hợp Quốc cho thấy Việt Nam đạt 42,3 điểm, đứng cuối khu vực ASEAN (cùng mức với Philippines, thấp hơn Malaysia 54,0; Myanmar 52,8; Lào 52,4; Campuchia 50,1; Thái Lan 49,7; Indonesia 48,8).

Về lý luận báo chí, chương 1 phân tích chức năng thông tin, giáo dục, định hướng dư luận và giám sát xã hội của báo chí đối với vấn đề môi trường. Tác giả nêu bật những thách thức của thể loại báo chí môi trường (environmental journalism) thông qua các vụ việc quốc tế: thành phố La Oroya (Peru), vụ điều tra phá rừng Amazon của báo Jornal Pessoal (Brazil) dẫn đến 33 đơn kiện nhà báo Lúcio Flávio Pinto, vụ phóng viên Cyril Payen bị tạm giữ khi điều tra khai thác gỗ tại Indonesia, và sự việc tàu chở dầu Probo Koala đổ chất thải độc hại tại Abidjan (Côte d’Ivoire, 2006) làm 10 người chết và 7.000 người bị ảnh hưởng.

Chương 2: Báo điện tử VnExpress với công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Chương 2 giới thiệu tổng quan về báo VnExpress: thành lập bởi Tập đoàn FPT ngày 26/02/2001, được cấp phép ngày 25/11/2002, cơ quan chủ quản là Bộ Khoa học và Công nghệ, là báo điện tử thuần túy đầu tiên tại Việt Nam không có ấn bản in.

Tác giả trình bày kết quả khảo sát thực chứng 250 tin bài về môi trường từ ngày 01/01/2015 đến 30/04/2015 theo các tiêu chí:

  • Tần suất và chuyên mục: Đạt bình quân 2,1 tin bài/ngày (tháng 1: 69 bài, tháng 2: 33 bài, tháng 3: 72 bài, tháng 4: 76 bài). Chuyên mục Thời sự chiếm tỷ lệ cao nhất với 174 bài (69,6%), tiếp theo là Thế giới với 59 bài (23,6%), Khoa học 14 bài và Pháp luật 3 bài.
  • Chủ đề phản ánh: Nhóm đề tài Dự án, giải pháp, cuộc thi - ý tưởng bảo vệ môi trường chiếm 114 bài (45,6%), tập trung vào 2 sự kiện lớn là dự án thay thế 6.700 cây xanh tại Hà Nội (31 bài) và dự án lấn sông Đồng Nai (15 bài). Nhóm Thảm họa, thiên tai chiếm 73 bài (29,2%), trong đó trận động đất mạnh 7,9 độ Richter tại Nepal ngày 25/04/2015 chiếm 52 bài (riêng từ ngày 25 đến 29/04 có 51 bài, đạt mật độ cập nhật trung bình 2,4 giờ/bài). Nhóm Dự báo thời tiết chiếm 46 bài (18,4%). Nhóm Ô nhiễm môi trường - biến đổi khí hậu chỉ chiếm 17 bài (6,8%), trong đó mảng biến đổi khí hậu chỉ có duy nhất 01 bài ngắn 300 chữ ngày 17/01/2015.
  • Hình thức thể loại và kỹ thuật thể hiện: Thể loại tin ngắn chiếm 164 bài, bài phản ánh/điều tra 40 bài, phóng sự ảnh 46 bài. Về phương tiện kỹ thuật, 242/250 bài có sử dụng ảnh minh họa (phóng sự ảnh có 8-10 ảnh/bài), 24 bài sử dụng video clip và 5 bài ứng dụng đồ họa thông tin (infographic).
  • Thành công và hạn chế: VnExpress đã thông tin nhanh chóng, khai thác đa chiều, phát huy sức mạnh đa phương tiện và tạo sức ép xã hội tích cực (điển hình là phản ánh vụ xả thải của Công ty Đồng Xanh dẫn đến quyết định xử phạt 42,8 triệu đồng của Công an tỉnh Đồng Nai, buộc khắc phục trong 90 ngày; loạt bài phản biện dự án lấn sông Đồng Nai 3.200 tỷ đồng và dự án cây xanh Hà Nội; vận động quỹ độc giả ủng hộ nạn nhân động đất Nepal đạt hơn 2,4 tỷ đồng). Hạn chế lớn nhất là báo chưa có đội ngũ phóng viên chuyên trách mảng môi trường dẫn đến việc phân công kiêm nhiệm giữa ban Thời sự và ban Thế giới, dung lượng tin bài phân bổ không đều giữa các chuyên mục, thiếu các bài viết phản biện chính sách và ít đề cập đến mảng ô nhiễm nguyên phát.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tin bài về đề tài bảo vệ môi trường trên báo VnExpress

Dựa trên kết cấu văn bản và mục lục khóa luận, chương 3 tập trung phân tích bối cảnh cơ hội và thách thức của báo VnExpress khi tuyên truyền về đề tài môi trường trong kỷ nguyên truyền thông số. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng thông tin bảo vệ môi trường cho báo VnExpress nói riêng và hệ thống báo chí Việt Nam nói chung, tập trung vào việc kiện toàn nhân sự phóng viên chuyên trách môi trường, nâng cao năng lực phân tích chuyên sâu, cân đối cơ cấu đề tài và tối ưu hóa các hình thức đa phương tiện hiện đại.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa toàn bộ dữ liệu phản ánh đề tài môi trường trên báo VnExpress trong 4 tháng đầu năm 2015 qua các bảng số liệu chi tiết:

Tiêu chí phân loại Phân nhóm cụ thể Số lượng bài Tỷ lệ (%)
Theo chuyên mục Thời sự 174 69,6%
Thế giới 59 23,6%
Khoa học 14 5,6%
Pháp luật 3 1,2%
Theo chủ đề Dự án, giải pháp, ý tưởng bảo vệ môi trường 114 45,6%
Thảm họa, thiên tai 73 29,2%
Dự báo thời tiết 46 18,4%
Ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, sinh thái 17 6,8%
Theo thể loại báo chí Tin tức 164 65,6%
Phóng sự ảnh 46 18,4%
Bài phản ánh, điều tra 40 16,0%
Yếu tố đa phương tiện Bài viết có hình ảnh 242 96,8%
Bài viết tích hợp video clip 24 9,6%
Bài viết sử dụng đồ họa thông tin 5 2,0%
Tổng số bài khảo sát Toàn bộ các mục (01/01/2015 - 30/04/2015) 250 100%

Các phát hiện và kết quả chính:

  • Tác giả chứng minh thế mạnh nổi bật của VnExpress về tính thời sự và tốc độ cập nhật thông tin hỏa tốc, thể hiện rõ qua chuỗi 51 bài viết về động đất Nepal trong 5 ngày và loạt bài phản ánh liên tục về dự án cây xanh Hà Nội (14 bài trong 6 ngày từ 19 đến 24/03/2015).
  • Nghiên cứu chỉ ra sự mất cân đối rõ rệt trong cơ cấu nội dung: mảng ô nhiễm môi trường thực tế tại địa phương và biến đổi khí hậu chỉ chiếm 6,8% tổng số bài, trong khi các sự kiện mang tính thời sự đột xuất và dự án đô thị chiếm tỷ trọng áp đảo.
  • Tác giả khẳng định vai trò giám sát xã hội của báo chí điện tử thông qua các dẫn chứng cụ thể: cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai xử phạt Công ty Đồng Xanh 42,8 triệu đồng sau bài báo ngày 10/01/2015; dự án lấn sông Đồng Nai trị giá 3.200 tỷ đồng phải tạm dừng sau loạt bài phỏng vấn chuyên gia ngày 25/03/2015; và ý kiến công chúng được ghi nhận mạnh mẽ với các bài viết đạt 460 đến 545 bình luận.

Đóng góp của đề tài:

  • Về lý luận: Làm phong phú thêm lý luận báo chí học về chức năng giám sát xã hội và cơ chế tác động của loại hình báo mạng điện tử đối với lĩnh vực môi trường; khái quát quy trình chuyển tải thông tin môi trường đa phương tiện.
  • Về thực tiễn: Đây là công trình đầu tiên khảo sát trực tiếp, định lượng và phân tích chuyên sâu về công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường trên báo VnExpress, cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho các cơ quan báo chí và nhà báo trong việc cải tiến cách thức tuyên truyền về sinh thái, môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số hạn chế dựa trên phạm vi và đối tượng khảo sát được tác giả nêu ra:

  • Khung thời gian khảo sát thực tế giới hạn trong 4 tháng (từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/04/2015), do đó kết quả định lượng chịu ảnh hưởng mạnh bởi các sự kiện thời sự cá biệt diễn ra trong giai đoạn này (như trận động đất Nepal tháng 4/2015 hay sự kiện cải tạo cây xanh Hà Nội tháng 3/2015), chưa bao quát được toàn bộ chu kỳ thông tin cả năm.
  • Khảo sát tập trung trên một cơ quan báo chí đơn lẻ là Báo điện tử VnExpress, chưa mở rộng so sánh đối chiếu định lượng với các báo mạng điện tử lớn khác cùng thời điểm như Vietnamnet hay Dân trí.
  • Tác giả chưa thu thập được đầy đủ các tư liệu văn bản chuyên ngành từ các bộ, ban, ngành quản lý nhà nước do báo điện tử không phải cơ quan chuyên trang về môi trường.

Hướng nghiên cứu tiếp có thể mở rộng khảo sát trên khung thời gian dài hơn, đối sánh giữa nhiều cơ quan báo điện tử tổng hợp và báo chí chuyên ngành tài nguyên môi trường, đồng thời đào sâu khảo sát hành vi tiếp nhận thông tin môi trường của các nhóm công chúng trực tuyến khác nhau.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Báo chí học, Truyền thông đại chúng, Xã hội học truyền thông trong việc tham khảo phương pháp khảo sát định lượng nội dung báo mạng điện tử và khung lý thuyết về cơ chế tác động thông tin của PGS. Nguyễn Văn Dững.
  • Phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí khi xây dựng tuyến bài điều tra môi trường, vận dụng phương thức thể hiện đa phương tiện (phóng sự ảnh, video, infographic) và tổ chức tương tác với độc giả.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường trong việc đánh giá mức độ lan tỏa của chính sách pháp luật trên các phương tiện truyền thông trực tuyến.

Các phần đáng tham khảo nhất trong công trình gồm: hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết 250 tin bài theo 4 nhóm đề tài, phương pháp phân tích bài viết đa phương tiện và các bài học kinh nghiệm xử lý khủng hoảng truyền thông môi trường từ thực tiễn quốc tế và Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã khảo sát bao nhiêu bài viết về môi trường trên báo VnExpress và trong thời gian nào?
Tác giả đã tiến hành thống kê và khảo sát toàn diện 250 bài viết có nội dung về môi trường đăng tải trên tất cả các chuyên mục của báo điện tử VnExpress trong khoảng thời gian 4 tháng, từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/04/2015.

2. Tỷ lệ phân bố các bài viết về môi trường theo chuyên mục trên báo VnExpress như thế nào?
Trong tổng số 250 bài viết:

  • Chuyên mục Thời sự chiếm 174 bài (69,6%).
  • Chuyên mục Thế giới chiếm 59 bài (23,6%).
  • Chuyên mục Khoa học chiếm 14 bài (5,6%).
  • Chuyên mục Pháp luật chiếm 3 bài (1,2%).

3. Đề tài nào chiếm số lượng bài viết lớn nhất và nhỏ nhất trong thời gian khảo sát?
Đề tài chiếm số lượng lớn nhất là "Dự án, giải pháp, cuộc thi - ý tưởng bảo vệ môi trường" với 114 bài (45,6%), tập trung vào dự án cây xanh Hà Nội và dự án lấn sông Đồng Nai. Đề tài chiếm số lượng ít nhất là "Ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, mất cân bằng sinh thái" với 17 bài (6,8%), trong đó mảng biến đổi khí hậu chỉ có 01 bài viết.

4. Báo VnExpress đã ứng dụng các yếu tố đa phương tiện trong các bài viết môi trường ở mức độ nào?
Trong 250 bài viết được khảo sát:

  • 242 bài có sử dụng hình ảnh minh họa (chiếm 96,8%), trong đó có 46 bài thuộc thể loại phóng sự ảnh chuyên biệt (8-10 ảnh/bài).
  • 24 bài có tích hợp video clip (chiếm 9,6%).
  • 5 bài sử dụng hình thức đồ họa thông tin (infographic), tiêu biểu là 4 bài đồ họa giải thích cơ chế trận động đất tại Nepal.

5. Tác giả đã chỉ ra những vụ việc thực tế điển hình nào để minh chứng cho hiệu quả giám sát môi trường của VnExpress?
Tác giả dẫn chứng 3 sự việc tiêu biểu:

  • Vụ Công ty Cổ phần Môi trường Đồng Xanh chôn lấp nước thải tại Trảng Dài (Đồng Nai), sau bài phản ánh ngày 10/01/2015 đã bị cơ quan chức năng phạt 42,8 triệu đồng và buộc khắc phục trong 90 ngày.
  • Tuyến bài phản biện dự án lấn sông Đồng Nai trị giá 3.200 tỷ đồng, dẫn đến việc tỉnh Đồng Nai quyết định tạm dừng dự án vào ngày 28/03/2015.
  • Loạt 31 bài viết phản ánh đa chiều về dự án thay thế 6.700 cây xanh tại Hà Nội, thu hút hàng trăm bình luận từ độc giả và thúc đẩy Thanh tra Chính phủ vào cuộc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của báo chí đối với công tác bảo vệ môi trường và hoàn thành khảo sát thực chứng 250 tác phẩm trên Báo điện tử VnExpress trong 4 tháng đầu năm 2015. Kết quả nghiên cứu làm rõ ưu thế vượt trội của báo điện tử về tính thời sự, tốc độ cập nhật hỏa tốc và khả năng tích hợp đa phương tiện, đồng thời chỉ ra các hạn chế trong cơ cấu đề tài và nhân sự chuyên trách. Công trình cung cấp hệ thống số liệu định lượng tin cậy và các hàm ý giải pháp thực tiễn có giá trị nhằm nâng cao chất lượng truyền thông môi trường trên báo mạng điện tử tại Việt Nam.