Báo chí miền núi phía Bắc với phát triển KH&CN: Khảo sát Phú Thọ, Tuyên Quang

Luận văn thạc sĩ báo chí về vai trò của báo chí địa phương miền núi phía Bắc với phát triển khoa học và công nghệ qua thực tiễn Phú Thọ và Tuyên Quang.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
133
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan báo chí miền núi phía Bắc với khoa học và công nghệ

Vùng trung du và miền núi phía Bắc giữ vị trí chiến lược đặc biệt về chính trị, kinh tế và quốc phòng. Khu vực này đối mặt với địa hình hiểm trở, hạ tầng hạn chế và tỷ lệ hộ nghèo cao. Khoa học và công nghệ đóng vai trò then chốt nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển nhanh và bền vững. Báo chí địa phương giữ vị trí xung kích trên mặt trận thông tin và truyền thông. Báo in, đài phát thanh và truyền hình các tỉnh miền núi trực tiếp truyền tải chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về khoa học công nghệ đến quần chúng nhân dân. Hoạt động báo chí giúp phổ biến kiến thức kỹ thuật, giới thiệu các mô hình kinh tế nông lâm nghiệp đạt hiệu quả cao. Đồng thời, báo chí kết nối chặt chẽ giữa nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp và người nông dân. Nghiên cứu trường hợp báo chí tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang năm 2016 cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng truyền thông khoa học công nghệ tại khu vực Đông Bắc. Báo chí địa phương không chỉ nâng cao dân trí mà còn xóa bỏ tập tục canh tác lạc hậu, tạo động lực phát triển kinh tế vùng cao.

1.1. Cơ sở lý luận về truyền thông khoa học công nghệ trên báo chí địa phương

Truyền thông khoa học công nghệ là quá trình chuyển tải thông tin tri thức, tiến bộ kỹ thuật và thành tựu nghiên cứu đến công chúng. Báo chí địa phương đóng vai trò trung gian quan trọng trong hệ thống đổi mới sáng tạo vùng. Báo chí thực hiện chức năng định hướng nhận thức, cung cấp giải pháp kỹ thuật ứng dụng trực tiếp vào sản xuất nông lâm nghiệp. Thông qua các thể loại tin, bài phản ánh, phóng sự, cơ quan báo chí diễn giải kiến thức chuyên môn phức tạp thành hướng dẫn dễ hiểu, dễ áp dụng cho đồng bào thiểu số. Hoạt động này tạo lập niềm tin và thúc đẩy người dân chủ động thay đổi phương thức lao động truyền thống.

1.2. Chủ trương phát triển khoa học kỹ thuật tại Phú Thọ và Tuyên Quang

Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân hai tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang luôn xác định khoa học công nghệ là động lực đột phá. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp đề ra mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào thâm canh cây chè, cây lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc. Các cơ quan quản lý ban hành nhiều chính sách hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ quan báo chí địa phương được giao nhiệm vụ chủ lực trong việc tuyên truyền văn bản pháp luật, đề án ứng dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng thương hiệu nông sản đặc sản vùng trung du.

II. Thực trạng báo chí Phú Thọ Tuyên Quang về khoa học công nghệ

Khảo sát thực tế năm 2016 tại Báo Phú Thọ, Báo Tuyên Quang cùng các đài Phát thanh - Truyền hình địa phương cho thấy hoạt động thông tin khoa học công nghệ đã đạt nhiều kết quả tích cực. Báo chí hai tỉnh duy trì đều đặn các chuyên trang, chuyên mục về khoa học và đời sống, khuyến nông khuyến lâm. Số lượng tin bài phản ánh các mô hình ứng dụng giống cây trồng mới, kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học tăng trưởng rõ rệt. Tuy nhiên, nội dung tuyên truyền vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục. Phần lớn bài viết dừng lại ở việc phản ánh sự kiện hội thảo, nghiệm thu đề tài một cách khô cứng. Báo chí địa phương còn thiếu các bài viết chuyên sâu phân tích giá trị kinh tế và khả năng thương mại hóa sản phẩm khoa học. Hình thức thể hiện trên báo in và truyền hình còn đơn điệu, ít đồ họa trực quan và chưa tối ưu hóa cho độc giả vùng sâu vùng xa. Đội ngũ phóng viên chuyên trách mảng khoa học công nghệ còn mỏng, thiếu kiến thức kỹ thuật chuyên sâu nên khó tạo ra tác phẩm báo chí hấp dẫn.

2.1. Đánh giá nội dung và hình thức chuyên mục khoa học công nghệ

Chuyên trang khoa học công nghệ trên Báo Phú Thọ và Báo Tuyên Quang xuất bản định kỳ với dung lượng ổn định. Nội dung tập trung giới thiệu các gương điển hình nông dân sáng tạo và mô hình kinh tế trang trại ứng dụng công nghệ cao. Dù vậy, phương thức trình bày chưa phong phú, chủ yếu là tin vắn và bài tường thuật. Báo chí thiếu vắng các thể loại chuyên luận, phóng sự điều tra và phóng sự ảnh sinh động. Ngôn ngữ bài viết đôi khi quá học thuật, gây khó khăn cho người dân miền núi trong việc tiếp thu và ứng dụng thực tiễn.

2.2. Những rào cản tác động đến hiệu quả truyền thông khoa học tại địa phương

Nhiều yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng truyền thông khoa học công nghệ tại hai tỉnh. Cơ sở vật chất kỹ thuật của các tòa soạn địa phương còn thiếu thốn, kinh phí dành cho tác nghiệp điều tra khoa học hạn hẹp. Sự phối hợp giữa Sở Khoa học và Công nghệ với các cơ quan báo chí chưa thực sự chặt chẽ, chủ yếu mang tính mùa vụ. Trình độ dân trí không đồng đều cùng rào cản ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số cũng gây trở ngại lớn cho việc tiếp nhận thông tin khoa học kỹ thuật hiện đại.

III. Giải pháp cho báo chí miền núi phía Bắc về khoa học và công nghệ

Để nâng cao chất lượng truyền thông khoa học công nghệ, các cơ quan báo chí tại Phú Thọ và Tuyên Quang cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Trước hết, ban biên tập phải đổi mới tư duy làm báo, xác định khoa học công nghệ là đề tài trọng điểm gắn liền với phát triển sinh kế nhân dân. Cơ quan báo chí cần đa dạng hóa thể loại tác phẩm, đẩy mạnh thể loại phóng sự truyền hình, infographic và video trực quan trên nền tảng số. Đội ngũ phóng viên mảng khoa học công nghệ phải được đào tạo bài bản về nghiệp vụ báo chí lẫn kiến thức chuyên ngành. Tòa soạn cần xây dựng cơ chế nhuận bút thỏa đáng nhằm khuyến khích phóng viên dấn thân vào các vùng khó khăn, tìm kiếm đề tài thực tế. Ngoài ra, việc thiết lập mối quan hệ hợp tác thường xuyên giữa cơ quan báo chí, Sở Khoa học và Công nghệ cùng các viện nghiên cứu là yếu tố then chốt nhằm đảm bảo nguồn tin chính xác, nhanh chóng và có giá trị ứng dụng cao.

3.1. Đào tạo đội ngũ phóng viên chuyên sâu về khoa học và công nghệ

Cơ quan báo chí cần tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu về truyền thông khoa học công nghệ. Nhà báo cần được trang bị kỹ năng đơn giản hóa kiến thức kỹ thuật, chuyển tải thuật ngữ phức tạp thành ngôn ngữ bình dân dễ hiểu. Tòa soạn nên khuyến khích phóng viên tham gia các buổi hội thảo khoa học và trực tiếp trải nghiệm mô hình chuyển giao kỹ thuật tại cơ sở. Sự am hiểu sâu sắc về nông nghiệp miền núi giúp người làm báo xây dựng tác phẩm thuyết phục, khơi dậy tinh thần sáng tạo trong cộng đồng dân cư.

3.2. Tăng cường phối hợp liên ngành và phát triển báo chí đa phương tiện

Sở Khoa học và Công nghệ cùng Hội Nhà báo các tỉnh cần ký kết quy chế phối hợp cung cấp thông tin định kỳ. Các cơ quan quản lý cần chủ động đặt hàng báo chí tuyên truyền những công trình nghiên cứu trọng điểm có khả năng nhân rộng. Đồng thời, báo chí địa phương phải nhanh chóng chuyển đổi số, tích hợp ấn phẩm điện tử và mạng xã hội để lan tỏa tri thức khoa học. Việc phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số trên sóng truyền thanh cơ sở cần được duy trì và nâng cao chất lượng phát sóng.

IV. Ý nghĩa báo chí miền núi phía Bắc với phát triển khoa học công nghệ

Nghiên cứu về báo chí địa phương hai tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang năm 2016 khẳng định vai trò không thể thay thế của truyền thông trong tiến trình hiện đại hóa miền núi phía Bắc. Báo chí địa phương là đòn bẩy thúc đẩy chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào mọi mặt của đời sống sản xuất. Những kinh nghiệm thực tiễn từ Phú Thọ và Tuyên Quang cung cấp bài học giá trị cho toàn bộ 14 tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Công tác truyền thông khoa học công nghệ thành công góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng, nâng cao chỉ số phát triển con người. Việc vận dụng đúng đắn các giải pháp đổi mới nội dung và phương thức tiếp cận sẽ biến báo chí thành công cụ đắc lực hỗ trợ xóa đói giảm nghèo bền vững. Các cơ quan báo chí cần kiên trì sứ mệnh phổ biến tri thức, đồng hành cùng các nhà khoa học và người dân xây dựng nông thôn mới giàu mạnh.

4.1. Đóng góp của nghiên cứu đối với lý luận báo chí truyền thông

Đề tài luận văn thạc sĩ báo chí năm 2016 bổ sung hệ thống luận cứ khoa học về truyền thông chuyên biệt tại vùng đặc thù. Công trình làm sáng tỏ cơ chế tác động của báo chí địa phương đối với việc thay đổi hành vi sản xuất của đồng bào thiểu số. Kết quả nghiên cứu cung cấp khung phân tích thực chứng giúp các nhà nghiên cứu truyền thông đánh giá hiệu quả thông tin khoa học công nghệ. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho công tác giảng dạy chuyên ngành báo chí và quản lý báo chí truyền thông hiện đại.

4.2. Giá trị ứng dụng thực tiễn trong công tác quản lý và phát triển vùng

Các đề xuất từ nghiên cứu giúp lãnh đạo tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang và các tỉnh miền núi xây dựng chiến lược truyền thông khoa học công nghệ phù hợp. Lãnh đạo các cơ quan báo chí có căn cứ thực tế để tái cấu trúc chuyên mục, phân bổ nguồn lực tác nghiệp và nâng cao năng lực đội ngũ làm báo. Doanh nghiệp và bà con nông dân hưởng lợi trực tiếp từ các luồng thông tin khoa học kỹ thuật chuẩn xác, thúc đẩy năng suất lao động và giá trị nông sản vùng trung du.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths báo chí báo chí địa phương khu vực miền núi phía bắc với vấn đề phát triển khoa học và công nghệ hiện nay nghiên cứu 2 trường hợp phú thọ tuyên quang năm 2016

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1 Một số khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 1.1 Báo chí - truyền thông - Báo chí: + Theo quan niệm dân gian trong xã hội Việt Nam ngày trước, báo chí nhiều khi được ví như “thằng mõ”, là người đưa tin có tính chất công báo, làm nhiệm vụ loan báo cho dân làng biết những gì đã, đang và sắp xảy ra. + Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Báo, hay gọi đầy đủ là Báo chí (xuất phát từ 2 từ "báo" - thông báo - và "chí" - giấy), hay còn có tên gọi cũ là Tân văn (như trong Phụ nữ tân văn, Lục Tỉnh tân văn), nói một cách khái quát là những xuất bản phẩm định kỳ nhằm báo cáo về các sự vật, hiện tượng hay con người nổi bật trong ngày mà xã hội cần quan tâm. Báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng. Do đó, trong nhiều trường hợp, có thể dùng báo chí để chỉ truyền thông đại chúng; và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng - trước hết phải nói đến báo chí.

Báo chí trong trường hợp này được dùng, được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm báo in, báo chí phát thanh, báo chí truyền hình, báo mạng điện tử (“phát hành” trên mạng internet) và hãng thông tấn. Báo chí theo nghĩa hẹp, là bao gồm báo, tạp chí và bản tin thời sự. Báo chí là hiện tượng xã hội đa nghĩa, phức tạp và có nhiều cách tiếp cận không giống nhau trong các xã hội có thể chế chính trị khác nhau. + Khái niệm báo chí tiếp cận từ quan điểm hệ thống: 14 Khi nhìn nhận xã hội như một hệ thống trong tổng thể đang vận hành, báo chí cũng cần được tiếp cận từ quan điểm hệ thống; nhìn nhận báo chí như một tiểu hệ thống cấu thành hệ thống xã hội nói chung; trong đó, báo chí là một bộ phận cấu thành và chịu sự chi phối của hệ thống lớn cũng như sự tác động của các tiểu hệ thống (hoặc hệ thống con).

Trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị khác nhau, dù cho quan điểm, chính sách và phương thức khai thác, sử dụng báo chí khác nhau, nhưng giữa chúng vấn có những điểm chung. Điểm chung này xuất phát từ bản chất của báo chí truyền thông – là hoạt động thông tin – giao tiếp xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế… [18, tr. Tiếp cận từ quan điểm hệ thống, có thể nêu ra khái niệm báo chí bao gồm các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố ấy như sau: Sơ đồ này định nghĩa khái niệm báo chí theo nghĩa rộng, ở bình diện vĩ mô của nền báo chí cũng như có thể tiếp cận nó trên bình diện vi mô khi xem xét các hiện tượng báo chí trong hoạt 15 động thực tiễn. Từ đó, cách nhìn nhận báo chí và hoạt động báo chí theo một quan điểm khoa học – thực tế và luôn vận động, chi phối hoạt động thực tiễn trong quá trình sản xuất các ấn phẩm báo chí, trong quan hệ với công chúng – thị trường, với các nhóm xã hội và nhóm lợi ích, cũng như trong quan hệ với quyền lực chính trị và các thể chế khác, trên phạm vi mỗi nước.

Tuy phương tiện truyền tải báo chí thay đổi theo thời gian, các nghiệp vụ báo chí vẫn bao gồm: tìm hiểu thông tin, phân tích thông tin và phổ biến thông tin đến độc giả. Mở rộng ra, khái niệm báo chí cũng được sử dụng cho các phương pháp tìm kiếm tin tức, lối viết văn trên báo chí, và các hoạt động (chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp) của báo chí. Theo thời gian, phương tiện truyền tải của thông tin đi từ nhật báo, tạp chí (trên giấy) tới đài phát thanh, đài truyền hình (trên loa đài) tới các ấn bản điện tử trên web (báo điện tử). Trong xã hội hiện đại, báo chí là người cung cấp thông tin chính và phản hồi ý kiến về các vấn đề của công chúng.

Tuy nhiên báo chí không phải lúc nào cũng chỉ giới hạn ở tìm kiếm và truyền tải thông tin. Truyền thông báo chí có thể mở rộng sang các hình thức khác như văn học và điện ảnh. Ở một số quốc gia, báo chí bị chính phủ kiểm soát và không phải là một cơ quan hoàn toàn độc lập. + Khái niệm Báo chí còn được quy định trong Luật Báo chí sửa đổi ban hành ngày 05 tháng 4 năm 2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử.

Hoạt động báo chí là hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí; cung cấp thông 16 tin và phản hồi thông tin cho báo chí; cải chính thông tin trên báo chí; xuất bản, in, phát hành báo in; truyền dẫn báo điện tử và truyền dẫn, phát sóng báo nói, báo hình”. Mỗi khái niệm báo chí nêu trên đều đúng nhưng chưa hoàn toàn đầy đủ. Theo tác giả, Báo chí truyền thông là hoạt động thông tin – giao tiếp xã hội hữu hiệu, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế… Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo chí khác nhau. - Truyền thông: + Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Truyền thông (từ Latin: commūnicāre, nghĩa là "chia sẻ") là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị.

Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên. + Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “commūnicāre”, nghĩa là biến nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải. Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người/hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu. Về thực chất, đó chính là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi hành vi cá nhân/nhóm/xã hội.Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời.

Adeslsm thì cho rằng, truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta. Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống… Còn rất nhiều quan niệm khác nhau về truyền thông. Mỗi khái niệm lại có khía cạnh hợp lý riêng. Tuy nhiên các khái niệm có những điểm chung, những nét tương đồng.

Từ các quan niệm trên đây và thực tiễn vận động của truyền thông, có thể nêu ra khái niệm chung nhất về truyền thông như sau: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm và của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững. Trong các loại hình và dạng thức truyền thông, cần chú ý truyền thông đại chúng. Truyền thông đại chúng là những kênh truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng; nó có vai trò quyết định sức mạnh, tính chất và khuynh hướng của nền truyền thông. Trong truyền thông đại chúng, báo chí với các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử là những kênh truyền thông có vai trò nền tảng, vị trí trung tâm và ý nghĩa quyết định đối với truyền thông nói chung.

Bởi vì, truyền thông đại chúng có thể được hiểu là hệ thống (hoặc mạng lưới) các phương tiện truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) để thông tin, chia sẻ, nhằm lôi kéo và tập hợp, giáo dục thuyết phục và tổ chức đông đảo công chúng xã hội và nhân dân nói chung tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội đã và đang đặt ra, bảo đảm phát triển bền vững. Báo chí có vai trò chi phối, quyết định sức mạnh, tính chất và khuynh hướng của truyền thông đại chúng. Cho nên, trong nhiều trường hợp, người ta 18 dùng thuật ngữ báo chí để chỉ các phương tiện truyền thông đại chúng; mặt khác, nói đến truyền thông đại chúng, trước hết là nói đến báo chí (hay giới truyền thông nói chung). Thông tin báo chí và thông tin trên các phương tiện truyền thông khác có sự khác biệt căn bản, nhưng giữa chúng có sự chia sẻ, phối hợp, kết nối để gia tăng sức tác động và sự lan tỏa trên diện rộng cũng như len lỏi vào công chúng xã hội theo nhóm nhỏ.

Như vậy, khái niệm trên đã chỉ ra bản chất và mục đích truyền thông. Về bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông. Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ