mở đầu cho triều đại Lê sơ đã mở ra một thời kỳ phong kiến lâu dài. Từ đấy, nước Đại Việt bước sang một trang sử mới, trang sử của sự yên bình, ấm no và thịnh vượng. Nước Đại Việt nửa đầu thế kỷ thứ XV dưới sự trị vì của vua Thái Tổ (Lê Lợi), đặc biệt là đời vua Lê Thái Tông (Nguyên Long) cho đến khi Thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính dưới triều Nhân Tông (lên ngôi năm 1442), với những đường lối trị vì đúng đắn, sáng suốt đã mau chóng hàn gắn được vết thương chiến tranh trước đó và dần đưa xã hội đi vào ổn định, phát triển. Câu hát đồng dao ca ngợi một thời vàng son, thịnh trị của các vị vua thời Lê sơ như sau: “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông; Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn”.
Bước sang nửa cuối thế kỷ XV, khi vua Lê Nhân Tông đến 12 tuổi, có thể tự coi được chính sự, Thái hậu Nguyễn Thị Anh trao trả quyền bính cho ông. Tuy tuổi còn nhỏ, nhưng vua luôn tỏ ra là một vị vua hiền minh, sáng suốt, tiếp tục đưa kinh 10 tế, văn hóa của đất nước phát triển đi lên. Vua hiền đức là thế, nhưng sau 17 năm trị vì lại bị chính người anh của mình là Lạng Sơn Vương Nghi Dân giết hại, cướp ngôi (1459). Vì Nghi Dân cướp ngôi vua, sát hại các cựu thần, nên khắp nơi muôn dân oán thán.
Tám tháng sau, vào tháng 6 năm 1460, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Nguyễn Đức Trung đồng tâm làm binh biến phế truất ngôi vua và bức giết Nghi Dân. Họ nhất tâm đưa người con thứ tư của vua Thái Tông là Bình Nguyên Vương (Gia Vương) Lê Tư Thành, tức Lê Thánh Tông lên ngôi vào ngày 26 tháng 6 năm 1460. Trong 38 năm trị vì, vua Lê Thánh Tông đã lấy hai niên hiệu là Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497). Trong gần bốn thập kỷ, dưới sự trị vì sáng suốt của vị minh vương Lê Thánh Tông, mọi mặt như kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, quân sự đều phát triển rực rỡ.
Lê Thánh Tông rất chú trọng đến việc phát triển kinh tế từ việc khuyến khích phát triển nông nghiệp, sửa sang lại luật thuế khóa, mở mang ruộng đất, chia đều đất đai cho mọi người. Thủ công nghiệp cũng được đầu tư phát triển, rất nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ra đời và phát triển trên khắp cả nước, các chợ búa được dựng lên khắp nơi. Bên cạnh nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp theo đó cũng phát triển mạnh. Hà Nội 36 phố phường tồn tại và phát triển đến ngày nay được hình thành dưới thời của vua Lê Thánh Tông trị vì.
Dưới sự chỉ đạo thông minh sáng suốt của nhà vua, kinh tế hồi này ngày một ổn định và phát triển, đời sống của nhân dân được ấm no, sung túc. Vua không những coi trọng việc phát triển kinh tế mà còn đặc biệt chú ý về quân sự, an ninh, quốc phòng. Việc bảo vệ biên cương xã tắc và mở mang bờ cõi quốc gia luôn được vua nghiêm túc chỉ đạo. Vua đã cho ra đời bộ luật Hồng Đức với 722 điều luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: luật hình sự, luật dân sự, tố tụng, hôn nhân - gia đình, hành chính,.
Luật lệ đề ra được nghiêm chỉnh thực hiện từ trong triều đình đến ra ngoài nhân dân. Bộ luật này ra đời nhằm mục đích duy trì trật tự xã hội, bảo vệ quốc gia và vương triều. Sự ra đời của bộ luật Hồng Đức thực sự đã đưa đời sống của nhân dân lên một bước phát triển mới - một thời đại văn minh trong thế kỷ XV. Nếu kinh tế, an ninh, quốc phòng phát triển vững mạnh thì văn hóa giáo dục cũng phát triển rực rỡ ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XV.
Vua Lê Thánh Tông đã chú trọng và đề cao việc giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước. Vua lấy đường lối tư 11 tưởng của Khổng Tử để sắp đặt xã hội. Nho giáo được đề cao, các hệ tư tưởng khác bị đẩy xuống hàng thứ. Học chế thời Lê sơ nói chung, dưới đời vua Lê Thánh Tông nói riêng được mở rộng hơn trước.
Bên cạnh Văn miếu, Quốc tử giám, Hàn lâm viện và các sảnh như Môn hạ sảnh, Trung thư sảnh… là những cơ quan văn hóa giáo dục lớn, nhà vua còn cho xây thêm Bí thư khố là nơi lưu trữ sách và xây dựng Học xá cho các giám sinh ở xa có nơi lưu trú. Kể từ đời vua Lê Thái Tông trở đi, việc thi cử luôn được tổ chức định kỳ ba năm một lần qua các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình. Đến đời Lê Thánh Tông thì việc giáo dục khoa cử đã đi vào nền nếp, quy mô và chính quy hoá. Năm 1484, nhà vua còn đề xướng việc khắc bia đề danh để tôn vinh các vị đỗ đại khoa, bắt đầu từ khoa thi Đình niên hiệu Đại Bảo (năm 1442) dưới triều Lê Thái Tông trở về sau.
Có thể nói, chưa có vương triều nào trong các triều đại phong kiến Việt Nam, văn hoá giáo dục phát triển mạnh mẽ và nhân tài xuất hiện nhiều như triều đại do Lê Thánh Tông trị vì. Con số thống kê sau đây về giáo dục và khoa cử dưới vương triều này đã khẳng định sự phát triển rực rỡ đó: “Trong vòng 38 năm trị vì, vua Lê Thánh Tông đã cho mở 26 khoa thi Hội và thi Đình (chính khoa và ân khoa), số người thi đỗ Tiến sĩ lên đến 989 người, trong đó có 18 vị đỗ Trạng nguyên. Nếu so sánh với toàn vương triều nhà Lê (Lê sơ và Lê trung hưng), từ khoa thi đầu tiên của vương triều này là khoa Nhâm Tuất 1442 đời Lê Thái Tông đến khoa Đinh Mùi 1787 đời Lê Chiêu Thống (trải qua 345 năm), triều đình đã tổ chức 94 khoa thi Hội và thi Đình, lấy đỗ Tiến sĩ 1732 người; cộng với 4 khoa Chế khoa và Ân khoa thi đỗ 30 người; tổng cộng là 1762 Tiến sĩ, trừ 05 người thi đỗ hai lần, còn lại 1757 vị, trong đó có 26 vị đỗ Trạng nguyên10”. Hồi này, nhân tài xuất hiện nhiều cùng với sự ra đời của Hội thơ Tao đàn do nhà vua sáng lập và làm Nguyên suý đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của nền giáo dục phong kiến nói chung và nền thơ ca trong thời trung đại nói riêng.
Đây cũng là truyền thống tốt đẹp để lưu truyền lại cho các thế hệ sau. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân lúc này cũng đã thay đổi theo hướng tích cực dưới sự trị vì và những luật định mà nhà vua ban ra. Các lễ nghi tập tục cổ 10 Theo thống kê của Nguyễn Công Lý trong Giáo dục – Khoa cử và Quan chế ở Việt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc, Nxb. 12 hủ, không phù hợp với thuần phong mỹ tục bị hạn chế hoặc xóa bỏ.
Lúc này, văn chương có thể nói là thịnh vượng bậc nhất, bản thân nhà vua cũng là nhà thơ hàng đầu. Lê Thánh Tông còn sáng lập ra hội Tao đàn nhị thập bát tú (hai mươi tám ngôi sao trên đàn văn học) vào năm 1495. Hội gồm 28 các vị Tiến sĩ giỏi thơ văn đang việc ở các cơ quan tại triều đình, nhiều nhất là ở Viện Hàn lâm, Đông các điện… Lê Thánh Tông xưng là Nguyên súy, cử Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận làm Phó Nguyên súy, Thái Thuận làm Tao đàn Sái phu (về sau được cử làm Phó Nguyên súy). Tuy Hội chỉ tồn tại trong mấy năm ngắn ngủi (từ cuối năm 1494 đến năm 1497) và các sáng tác của các Hội viên có những hạn chế nhất định như khuôn sáo, cầu kỳ, tư tưởng tình cảm bị bó hẹp, nhưng những sáng tác và đóng góp của Hội đến nay vẫn còn được nhắc đến và đánh giá cao: “Đó là tấm lòng yêu nước, niềm tự hào về truyền thống quang vinh của ông cha ta, đó cũng là sự quan tâm đến nhân dân và ý chí muốn làm cho dân giàu nước mạnh”11.
Nhìn chung, tình hình xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XV, đặc biệt dưới triều đại vua Lê Thánh Tông về mọi mặt đều có những bước phát triển hơn các triều đại trước. Thời này, đất nước thái bình, ổn định, không có thù trong giặc ngoài. Nhân dân được ơn trên che chở, dẫn đường, khắp nơi được yên ổn, tu chí làm ăn. Tất cả đều nhờ vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc và trên hết là nhờ vào đường lối lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của vị vua anh minh Lê Thánh Tông.
Thái Thuận: tiểu sử và sự nghiệp Trong xã hội mà khắp nơi thái hòa, mọi mặt đều được quan tâm phát triển, đặc biệt là về văn hóa giáo dục, thì xã hội đó là một mảnh đất màu mỡ ươm mầm cho bao hạt giống tốt lành vươn lên. Triều Lê sơ, chỉ tính trong thời gian trị vì của vua Lê Thánh Tông (1460-1497), tầng lớp nho sĩ đã tăng lên đáng kể. Những người thi cử, đỗ đạt đại khoa được xếp vào danh sách nhiều nhất trong các triều đại phong kiến trước đó và sau này. Đội ngũ trí thức đông đảo chính là nguồn tài sản vô giá đóng góp vào việc xây dựng phát triển đất nước.
Trong số các nho sĩ đỗ đạt, văn hay chữ tốt được vinh danh, nổi lên có những tên tuổi như: Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung, Nguyễn Trực, Lê Hoằng Dục, Nguyễn Bảo, Đàm Văn Lễ, Nguyễn Nhân 11 Đinh Gia Khánh (chủ biên), Lịch sử văn học Việt Nam, tập I, Nxb Khoa học Xã hội, HN, 1980, tr. Trong đó không thể không nhắc đến một nhà thơ xuất thân từ quê hương Bắc Ninh, mảnh đất trù phú của đồng bằng Bắc bộ, cái nôi của những làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào, đó là nhà thơ Thái Thuận. Với những vần thơ vừa tân kỳ, mới mẻ, vừa có khí vị cổ xưa của thơ Đường thơ Tống, Thái Thuận đã tạo nên một phong cách và giọng điệu thơ độc đáo của riêng mình. Về thân thế và lai lịch của nhà thơ Thái Thuận, sử sách ghi chép lại rất ít, có chăng cũng chỉ một vài trang giấy ghi vắn tắt về xuất thân, con người và sự nghiệp của ông.
Sau này, công trình nghiên cứu Thái Thuận nhà thơ lớn đất cổ Kinh Bắc do Đào Phương Bình và Bùi Duy Tân giới thiệu và tuyển dịch thơ, xuất bản năm 1978, có thể nói là công trình nghiên cứu tương đối sâu kỹ nhất về nhà thơ Thái Thuận từ trước cho đến lúc bấy giờ (1978).