Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Phim remake Việt Nam và quá trình lai ghép thể loại Chương 3. Phim remake Việt Nam và quá trình ban địa hoá văn hoa 16 CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN 1. Khái lược về remake Remake và những tương giao thẩm mỹ: trên đường biên lý thuyết Chúng tôi nhận thay có một mối tương giao mạnh mẽ giữa remake và cải biên.
Đào Lê Na cho rằng, remake có thé xem là một dạng thức của cải biên. Chúng tôi đồng tình với quan niệm này. Trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đương đại, chúng đều được tiếp cận theo hướng liên ngành, được đặt trong bối cảnh đa văn hoá và liên phương tiện, liên quan đến mỹ học tiếp nhận, liên văn bản, dịch liên kí hiệu, văn hoá học, loại hình học. Để tường minh vấn dé, chúng tôi dẫn ra các van đề liên quan trước khi đi làm rõ khái niệm remake.
Nỗ lực hệ thống hóa lý thuyết cải biên, nhà nghiên cứu giải cau trúc Linda Hutcheon trong công trình Một If thuyết về cải biên (A Theory of Adaptation) đã đề xuất định nghĩa kép về chuyên thể như sau: Thứ nhất, chuyền thê với tư cách là sản phẩm cải biên, tức là coi nó là một “palimpsest'”, “không phải là một “tác phẩm” mà là một “văn bản,” một “âm thanh lập thé của những lặp lại, trích dẫn, tham khảo” ở dạng số nhiều”. Cải biên “là một sự chuyên vị mạnh mẽ” diễn ra sự “chuyên mã”, mà sự chuyên mã này có thé /iên quan đến một thay đổi về phương tiện (một bài thơ sang một bộ phim) hoặc thể loại (một trường ca sang một tiểu thuyết), hoặc một sự thay đổi về khung và do đó cả về bối cảnh; Thứ hai, với tư cách là một quá trình sáng tạo, việc cải biên luôn liên quan đến cả (tái) diễn giải và (tái) sáng tạo; Thứ ba, cải biên được nhìn từ góc độ quá trình tiếp nhận, ở đây “cdi biên là một hình thức liên văn bản: chúng ta thưởng thức các tác phẩm chuyên thê (với tư cách là các tác phẩm cải biên) như các palimpsest thông qua ký ức của chúng ta về các tác phẩm khác mang âm hưởng đội lại qua sự lặp lại có biến đôi”. Trước đó, xuất hiện như một khái niệm quan trọng trong nghiên cứu văn chương cuối thé ky XIX - đầu thế kỷ XX, lý thuyết liên văn bản đã làm thay đổi căn bản những cách hiểu về tác phẩm, về mối quan hệ giữa các yếu tố tác giả — tác phâm — người đọc. Người đóng vai trò quan trọng cho lý thuyết liên văn bản ! Palimpsest: một loại chất liệu (thường là da động vật hoặc giấy cdi) được dùng để viết lên nhiều lần, sau khi văn bản trước đã được xóa di.
17 là Jukia Kristeva, theo bà, "Bat kì văn bản nào cũng được câu trúc như một bức khảm các trích dẫn, bat kì văn bản nào cũng là sự hấp thụ và biến đổi các văn ban khác”'. Mỗi văn bản đều là sự kết nối, chuyên đổi của hàng loạt văn bản khác. Quá trình so sánh các văn bản đã tạo nên một kết cấu mạng lưới có tính mở rộng bao gồm các văn bản ở quá khứ, hiện tại, tương lai. Nhìn nhận tác phẩm remake từ góc độ lý thuyết liên văn ban là một khía cạnh hợp lý và cần thiết, từ đó có thé xem xét mối quan hệ giữa văn bản nguồn và văn bản đích (phiên bản remake) trong mối tương tác đa dạng, không ngừng cộng hưởng và đối thoại lẫn nhau.
Bên cạnh đó, tiếp cận tác phâm remake từ lý thuyết liên văn bản sẽ khăng định được câu trả lời cho một van đề hiểu sai về phim remake là tác phẩm "đạo, nhái" hay có những đánh giá thấp về dòng phim này bởi sự vay mượn kịch bản từ phiên bản trước đó. Liên quan đến vấn đề tiếp nhận của đạo diễn và công chúng, remake cũng có những tương giao với lý thuyết tiếp nhận. Lý thuyết tiếp nhận có sự đóng góp bởi các lý thuyết gia hiện đại như H. Họ quan tâm đến tầm đón nhận và khả năng "đồng sáng tạo" của người đọc.
Theo đó, tác phâm văn học như một “đề án/chương trình/sơ đồ” có “tiềm năng được tiếp cận” nhưng chỉ được hiện thực hóa trong “tầm đón” của người đọc và được thê hiện dưới sự “đồng sáng tạo” của họ. Theo Jauss, tầm đón nhận bao gồm kinh nghiệm và tri thức của cá nhân người đọc, mức độ quen thuộc với các hình thức, thủ pháp văn học, và nhiều yếu tố chủ quan khác như địa vị kinh tế, chính trị, trình độ học vấn, kinh nghiệm sông, trình độ thưởng thức nghệ thuật, sở thích cá nhan,. Ở đây, với các bộ phim remake, người đọc chính là đạo diễn, họ có sự đón nhận và đồng sáng tạo theo các cách thức khác nhau, phần nhiều theo hướng bản địa hoá, Việt hoá các phiên bản phim gốc. Remake: Khái niệm, bản chất và phương thức ' Julia Kristeva, “Word, Dialogue and Novel”, trich dan theo Nguyén Van Thuan trong bai viét “Dan luan li thuyét lién van ban” 18 Có nhiều định nghĩa về phim remake’, tuy nhiên, có thể hiểu một cách thống nhất rằng, phim remake là phim lay chất liệu từ những bộ phim ra đời trước đó.
Thông thường, các nhà làm phim giữ nguyên cốt truyện, hệ thống nhân vật, chỉ thay đổi một số chi tiết và cách thức thé hiện. Về định nghĩa remake, theo từ điển Oxford, “remake” có nghĩa là làm lại một lần nữa hoặc làm khác đi thứ gì đó (make something again or differentl). Trong ngành điện ảnh, remake là một xu hướng mới và ngày càng trở nên phô biến, có rất nhiều định nghĩa về phim remake, nhưng tựu chung, có thể hiểu phim remake là một bộ phim dựa trên một kịch bản phim đã có từ trước (film based on an earlier screenplay) hay một phiên ban mới của những bộ phim đã xuất hiện từ trước (new versions of existing films). Nhưng định nghĩa về phim remake dễ hiểu và được nhiều người tiếp nhận nhất là “Phiên bản mới của một bộ phim, sử dụng những yếu tô chính như cốt truyện, nhân vật, cấu trúc, thậm chí có khi sao chép lại từng cảnh phim gốc”.
Giống như cải biên, remake có thể được diễn ra ở các loại hình nghệ thuật. Ban phim được viết lai/lam lại từ tác phẩm điện ảnh, truyền hình, sân khấu, múa. VỀ bản chất, remake có thể được xem là một hình thức của cải biên. Nói như Kristin Thompson trong cuốn Storytelling in Film and Television thì, phim remake, cải biên đều là "sự tái tạo và mở rộng các câu chuyện sẵn có"?.
Ở đây, có thé khang định rằng, hoạ động remake không phải là sự sao chép mang tính thương mại các câu chuyện sẵn có, hay thể hiện sự thiếu thốn các kịch bản sốc, mà việc remake phim cũng mang tinh sang tao. Tương tự hình thức liên văn bản, remake đặc trưng bởi "các mô hình lặp lại và biến đổi nối tiếp". Sự "biến đổi nối tiếp" này không chỉ diễn ra trên phương diện cấu trúc tự sự mà còn được nhấn mạnh ở phương diện văn hoá. Vì tính chất đại chúng và thương mại của phim remake, các bản phim remake thường có xu hướng thương thoả văn hoá sao cho gan gũi với văn hoá ban địa dé phù hợp với khán giả ban địa.
Ở đây, có thé thay, ! Trong bài “Phim remake là gi?”, tac giả đưa ra định nghĩa: “Phim remake (dong phim có ngữ cảnh quốc tế được Việt hóa)” (hups://chickgolden.com/phim-remake-la-gi-1645173366), Bùi Thị Hồng Gam: “Remake là phim lấy chất liệu chính từ phim đã ra đời trước đó” (https://vhnt.vn/doi-net-ve-phim- remake/) (Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 417, tháng 3-2019) ? Kristin Thompson (2003), Storytelling in Film and Television, Cambridge and London: Harvard UP, p. 19 phim remake dù mượn cốt truyện, nhân vật của phim gốc nhưng bộ phim vẫn phải tạo được không khí riêng, độc đáo mang hơi thở thời đại và tính chất văn hóa địa phương, dé khán giả vừa thay gần gũi vừa thấy tò mò, thích thú. Theo đó, về tính chất, phim remake vừa mang tính quốc tế, vừa mang tính bản địa. Sự cân bằng giữa tính địa phương/ bản địa và tính toàn cầu cũng là công thức các nhà sản xuất tìm kiếm khi thực hiện remake phim.
Suy cho cùng, một bộ phim remake thành công vẫn phải là phim phù hợp với thị hiếu khán giả về cả câu chuyện, cách ké chuyện, ngôn ngữ điện ảnh, đặc biệt là bầu sinh quyền văn hoá của phim. Năm 2006, trong Film remakes, Constantine Verevis đã đề xuất một cách tiếp cận có hệ thống của hiện tượng remake trong điện ảnh. Theo đó, hiện tượng remake sẽ được nhìn nhận ở ba phương diện, đó là: thứ nhất, remake như một lĩnh vực/ hạng mục của công nghiệp văn hoá, tức là, từ góc độ của nhà sản xuất và đạo diễn, phim remake là một bộ phim thương mại, nhắn mạnh đến khía cạnh mua/bán bản quyền; Thứ hai, remake như một lĩnh vực/ hạng mục của văn bản, khi đó nghiên cứu remake là xem xét các yếu tố của văn bản (cốt truyện, câu chuyện, cấu trúc tự sự.), ở khía cạnh thứ hai này, remake là quá trình tạo tác văn hóa, tự sự và thầm mỹ; Thứ ba, remake như là lĩnh vực/ hạng mục của tiếp nhận, xem xét các vấn đề của nghiên cứu tiếp nhận, bao gồm khán giả và thê chế (diễn ngôn) '. Giống như cải biên, đạo diễn được coi là chủ thể sáng tạo của phim remake.
Việc ràng buộc giữa bản gốc và bản remake được cho là rõ ràng hơn bởi hoạt động mua bản quyền. Phiên ban remake luôn gợi nhớ đến bản gốc, đồng thời, cũng nhân mạnh sự thay đổi và sáng tạo. Trong quá trình remake, có nhiều yếu t6 quyết định đến chiến lược remake của đạo diễn như là, "quy ước về thé loại, sở thích cá nhân, các cam kết chính trị-xã hội cụ thé, hoàn cảnh lịch sử ”. Một đặc điểm của phim remake đó là, chúng thường được chúng thường được làm lại từ những tác phẩm ăn khách.
Các nha làm phim tận dung mối liên hệ của khán giả với nhân vật và thế giới yêu thích của họ ở bộ phim gốc. Khai ' Constantine Verevis (2004), "Remaking Film", Film Studies (4), p. 20 thác sự gan bó va sự hoài niệm với các bộ phim sốc được xem là yếu tố then chốt tạo nên thành công của các bộ phim remake. Như đạo diễn Phan Gia Nhật Linh đã chia sẻ rằng: có hai lý do chính dé các nhà sản xuất remake một bộ phim.
Thứ nhất, tác phẩm gốc hap dẫn số đông khán giả. Thứ hai, do đạo diễn có hứng thú với phim do’. Theo đó, remake phim vừa là một hoạt động nghệ thuật, vừa là một hoạt động kinh tế.