CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VAN HOA TO CHỨC CUA BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TRƯỚC XU HƯỚNG TỰ CHỦ 1. Khái niệm văn hóa tổ chức Có nhiều định nghĩa khác nhau về VHTC - một khái niệm được tạo ra bằng việc kết hợp hai khái niệm “văn hóa” và “tổ chức”, vì vậy đã có nhiều định nghĩa khác nhau về “văn hóa” một cách đa dạng. Mặc dù nghĩa đã bị hạn chế, nhưng có lẽ do tính trừu tượng của văn hóa mà đã có nhiều khái niệm khác nhau về “văn hóa tô chức” được đề xuất, nhiều định nghĩa khác nhau được các nhà nghiên cứu đề cập. Văn hoá tổ chức đại diện cho tiêu chuẩn, giá trị, niềm tin và cách thức hành động đặc trưng của một tập thé khi họ cộng tác trong một hoạt động cụ thé.
Tính riêng biệt của VHTC có nguồn gốc từ lịch sử phát triển của tổ chức, được hình thành bởi những yếu tố quyết định quan trọng trong quá khứ như quyết định chiến lược, phong cách, và quan diém của các nhà lãnh đạo trước đây. Các đặc điểm này thé hiện thông qua phong tục, thói quen, và tư tưởng mà mỗi thành viên đánh giá cao, cũng như qua các quyết định chiến lược của tổ chức. Khi đề cập đến VHTC hoặc văn hóa bên trong một tô chức, ta nói về các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, và cách thức tương tác được thể hiện thông qua việc các thành viên hợp tác trong công việc. Sự đặc thù của một tổ chức cụ thể thường phản ánh trong lịch sử của nó và những tác động của hệ thống cũ, cũng như vai trò của lãnh đạo trong việc định hình con người.
Điều này thé hiện sự khác biệt giữa việc theo đuổi thói quen, quy tắc, hệ tư duy truyền thống và các tư duy mới, cũng như quá trình lựa chọn chiến lược cho tô chức. VHTC là sự kết hợp của hệ thống quan niệm chung mà các thành viên trong tổ chức thường thấu hiéu một cách không rõ ràng và thường chỉ phù hợp với tô chức cụ thé của ho. Những quan niệm nay thường được truyền đạt cho các thành viên mới. Các định nghĩa trên đã hình thành quan điểm về VHTC, mà thực tế thường liên quan đến từng loại hình tô chức như văn hoá công ty, văn hoá doanh nghiệp, văn hoá trường học, hoặc văn hoá cộng đồng của một tổ chức cụ thé.
Từ những định nghĩa này, có thé tạo ra quan niệm tông quan về VHTC, đó chính là: “VHTC là tong hop của các yếu tố văn hóa mà tổ chức đã lựa chon, sáng tạo, sử dụng và thể hiện trong quá trình hoạt động, tạo nên sự đặc biệt và đặc trưng riêng của một tô chức” [21]. VHTC là tập hợp các yếu tố chứa đựng các nguyên tắc ân đằng sau, được chia sẻ và được chấp nhận bởi một nhóm người trong tô chức. Những nguyên tắc này ảnh hưởng đến cách họ nhận thức, suy nghĩ, và hành động cũng như cách tô chức đáp ứng và thích nghi với sự biến đổi của môi trường xung quanh (Kreitner Kinicki, 1998). Như vậy, mọi định nghĩa về VHTC đều tập trung vào việc xác định tính cách của tổ chức, tức là cách mọi người trong tổ chức sống và làm việc với nhau.
VHTC được coi như phần “hồn” của tổ chức, mang tính cá nhân và độc đáo, đóng vai trò quan trọng trong định hình và thúc đây sự phát triển của tô chức. Tóm lại, VHTC là tổng thể các giá tri vật chat và tinh thần của tổ chức được hình thành nên trong quá trình phát triển của tổ chức, tạo nên bản sắc của tô chức. Nó điều chỉnh và tác động đến toàn bộ hoạt động của tổ chức và hành vi của các thành viên trong tổ chức trong quá trình hoạt động dé đạt đến mục tiêu của tổ chức. Từ định nghĩa trên có thé thấy, VHTC có ba đặc trưng quan trọng như sau: Trước hết, đó là các giá trị văn hóa mà tổ chức tạo dựng trong quá trình hình thành và duy trì, đồng thời đóng góp vào sự phát triển bền vững của tổ chức.
Điều này đảm bao rằng các giá trị được thúc day và duy tri trong tổ chức là những giá trị quan trọng và phù hợp. Thứ hai, để các giá trị văn hóa trở thành sự thực sự, chúng cần trở thành những quan niệm và tập quán tồn tại trong một khoảng thời gian đủ lâu. Những giá trị không được chấp nhận hoặc không thể áp dụng sẽ bị loại bỏ và không thé trở thành phần của VHTC. Thứ ba, các giá trị này phải thống trị nhận thức va hành vi của tổ chức.
Chúng phải đóng vai trò là nguyên tắc chỉ đạo và truyền cam hứng, ảnh hưởng đến tư duy và hành vi của các thành viên tổ chức trong việc đối mặt và phát triển trong các vấn đề tồn tại của tổ chức. Các đặc điểm này đồng hợp tác dé hình thành bản chat và sức mạnh của VHTC, đóng góp một vai trò quan trọng trong sự thành công và phát triển của tổ chức. Qua nghiên cứu, tổng hợp và phân tích, có thể khái quát về VHTC đó là: 10 VHTC là tổng hợp các giá trị văn hóa của mỗi tổ chức. Những giá trị nay trở thành những quan niệm, tập quán, truyền thống trong hoạt động của tô chức đó.
Nó chỉ phối tư duy, tình cảm và hành vi của mỗi cá nhân trong tô chức. Trong một tổ chức, những tập quán, quan niệm, cách ứng xử của các từng người sẽ dan dần được hình thành và trở thành những giá trị có định. Khi nhân viên gia nhập tổ chức, họ phải hoà nhập vào văn hóa đó và tuân thủ những giá trị và quy tắc đã được định sẵn. Điều này đảm bảo tính thống nhất và đồng nhất trong hành vi và phong cách làm việc của các thành viên trong tổ chức.
VHTC phát triển thông qua quá trình thực tế và tương tác trong tô chức, đồng thời đáp ứng các yêu cầu và mục tiêu trong môi trường nội bộ và bên ngoài. VHTC thé hiện những nhu cầu, mục tiêu và hướng di của tổ chức, tạo nên sự đặc trưng riêng của nó. Nó là cơ sở cho các quyết định chủ đạo và biện pháp cụ thể trong hoạt động và kinh doanh của tô chức, và có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của tô chức. Cấu trúc của văn hoá tổ chức VHTC cũng có cấu trúc tương đồng với cấu trúc ba cấp độ của văn hóa (E.
Schien, 2010), 3 cấp độ như sau: [30, trang 10]. * Cấp độ 1: Các sản phẩm của con người - sản phẩm hữu hình: - Kiến trúc và cách bài trí: gồm kiểu dang và cấu trúc của tòa nhà, sự sắp đặt và thiết kế nội thất, không gian làm việc, cơ sở vật chất và công nghệ. - Cơ cấu tô chức và phòng ban: gồm cách tô chức và chia nhóm công việc, sự phân cấp quản lý, các phòng ban và bộ phận trong tổ chức. - Văn bản quy định và tài liệu hướng dẫn: gồm các văn bản như hợp đồng lao động, chính sách và quy trình, hướng dẫn làm việc, biểu mẫu va tài liệu quản lý.
- Lễ nghi va sự kiện hàng năm: gồm các lễ hội, buổi gặp mặt, cuộc họp, hội thảo, hoạt động xã hội và các sự kiện khác được tô chức thường niên hoặc định kỳ. - Biểu tượng: gồm biểu trưng, logo, khẩu hiệu và các tài liệu quảng cáo của tô chức, nham tạo dấu ấn và nhận diện thương hiệu. - Ngôn ngữ, cách ăn mặc và hành vi ứng xử: gồm cách sử dụng ngôn ngữ, cách mặc đồng phục, phong cách giao tiếp, cách ứng xử của các thành viên trong tô chức. 11 - Câu chuyện và huyền thoại về tổ chức: gồm những câu chuyện, truyền thuyết và những sự kể về lịch sử, thành tựu và giá tri của tổ chức.
- Sản phẩm và dịch vụ: gồm những sản phẩm, dịch vụ hoặc giải pháp mà tổ chức cung cấp cho khách hàng hoặc thị trường. Tuy cấp độ văn hóa này có thé nhìn thay ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên, nhưng nó thường chỉ phản ánh một phần nhỏ của VHTC. Nó chịu sự ảnh hưởng lớn từ tính chất hoạt động của tổ chức và quan điểm của người lãnh đạo. Tuy nhiên, cap độ nay thường dé thay đổi và ít thé hiện được những giá trị thực sự của VHTC.
* Cấp độ 2: Các niềm tin và những giá trị được đồng thuận: Các giá trị được tuyên bố trong VHTC bao gồm các chiến lược, mục tiêu và triết lý của tổ chức. Các giá trị này thường được tuyên bố công khai dé tạo ra một bộ quy tắc và hướng dẫn chung cho tất cả nhân viên và thành viên trong tổ chức. Chúng đóng vai trò quan trọng trong xác định và hình thành VHTC và ảnh hưởng đến cách tổ chức hoạt động và tương tác với mọi người. Những giá trị công bố này có tính hữu hình vì chúng có thê được nhận biết và diễn đạt một cách chính xác.
Chúng đóng vai trò hướng dẫn cho các thành viên trong tổ chức về cách xử lý các tình huống cơ bản và cung cấp hướng dẫn cho các thành viên mới trong tổ chức. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chỉ công bồ giá trị chưa đủ dé xác định hoặc hiểu sâu về VHTC. Đề thực sự hiểu VHTC, cần phải xem xét cả các yếu tố vô hình như thái độ, tác động tâm lý, quy tắc không được viết và các tương tác xã hội trong tổ chức. * Cấp độ 3: Các giả định căn bản làm nền móng: Trong VHTC, có những quan niệm chung được công nhận và chia sẻ bởi các thành viên trong tô chức.
Đây là những ý nghĩa, niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm mà mọi người trong tổ chức đồng thuận và chấp nhận. Những quan niệm này thường được coi là cốt lõi trong VHTC va có ảnh hưởng đáng kê đến cách tô chức hoạt động, hành vi và quyết định của các thành viên, quan hệ với nhân viên, khách hàng và xã hội. Khi tổ chức đã thống nhất quan điểm chung, tức là các thành viên đã 12 cùng nhau chia sẻ và hành động theo quan điểm đó, họ sẽ gặp khó khăn trong việc chấp nhận những hành vi mâu thuẫn với quan điểm đó. Vai trò của Văn hoá tổ chức * VHTC là nguôn lực, phương thức phát triển lâu dài, bên vững Một tổ chức có văn hóa mạnh thường có những giá trị, niềm tin và quy tắc rõ ràng được chấp nhận và tuân thủ bởi tất cả các thành viên.