PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tri thức hay kiến thức có được là nhờ vào khả năng tự học, tự đọc, tự nghiên cứu, trải nghiệm sống cũng như cần có những bậc thầy hướng dẫn. Một quốc gia muốn phát triển bền vững thì phải đầu tư vào tri thức hay nói cách khác là giáo dục. Ở Việt Nam, chương trình đạo tạo phổ thông gồm có 12 năm học tại trường, rồi tiếp tục học đại học, nếu học cao hơn có thể lên thạc sĩ, tiến sĩ.
Tuy nhiên, sau những năm tháng đi học đó, nếu người học không tự học thêm, tự trau dồi kiến thức cho mình thì sẽ khó khăn trong việc làm chủ cuộc đời và đối mặt với các tình huống bất trắc, khó khăn của cuộc sống. Sở dĩ như vậy là vì, thế giới ngày càng văn minh và đang phát triển (PT) với tốc độ chóng mặt, nếu không tiếp tục học hỏi và trau dồi thêm những điều thiết thực, hữu dụng thì sẽ bị thụt lùi và lạc hậu, không thể hội nhập được với guồng quay của cuộc sống hiện đại. Vậy nên, tự tìm tòi, học hỏi để PT tri thức bản thân và hội nhập với sự PT của toàn nhân loại là nhu cầu thiết yếu. Một trong những phương pháp tự học, tự nghiên cứu hiệu quả và thông dụng để trau dồi tri thức là đọc sách (ĐS).
Văn hóa đọc luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống. Sách là nơi cất chứa kho tàng tri thức của nhân loại, cung cấp không chỉ kiến thức mà còn các bài học cuộc sống, kinh nghiệm sống, đồng thời cũng giúp nâng cao trí óc và tinh thần, giúp giải trí, giảm căng thẳng. Do đó, sách được xem là người thầy, người bạn thầm lặng của con người. Từ xưa các bậc cổ nhân đã coi việc ĐS vừa để học hỏi, hiểu biết, vừa để tu tâm dưỡng tánh.
Sách chính là người thầy uyên áo luôn lặng lẽ đồng hành và dạy con người bao điều hay, lẽ phải và thậm chí cả những điều mà trường học chưa dạy. Chính vì vậy, muốn có được tri thức, trí tuệ, hàm dưỡng nội tâm và hướng tới thành công thì một trong những cách thức thiết yếu là cần ĐS. Đọc để hiểu, áp dụng vào cuộc sống, đọc để PT tư duy, đọc để trau dồi tri thức, đọc để tăng cường trí nhớ, luyện tập não bộ, đọc để đối nhân xử thế, học cách làm người, “đọc 1 Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 30 of 98. sách là phương tiện cần thiết nhất, hiệu quả nhất để đào tạo cho mình một cơ sở học vấn vững vàng”(Thu Giang Nguyễn Duy Cần, 2020).
Ngày nay, với sự PT và bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin - khoa học kỹ thuật, con người có rất nhiều phương tiện dễ dàng để tìm kiếm thông tin, tri thức. Như vậy, công nghệ thông tin PT, một mặt đã làm cho cuộc sống của con người có nhiều thay đổi đáng kể, làm cho thế giới ngày càng văn minh, tạo ra nhiều tiện ích cho cuộc sống của con người, tạo ra nhiều sản phẩm, giúp con người hiểu biết hơn về thế giới và vũ trụ bao la; mặt khác, nó đã và đang dần làm mất đi những truyền thống tốt đẹp của con người, trong đó có văn hóa đọc (VHĐ). Chính vì những lý do như trên, phát triển văn hóa đọc (PTVHĐ) là vô cùng thiết yếu đối với toàn xã hội trong bối cảnh hội nhập và PT. Hiện nay, VHĐ đang có xu hướng đa dạng, các cách thức ĐS với nhiều phương tiện đọc qua mạng công nghệ.
Ở đây, chúng ta không bàn nhiều về VHĐ qua sách in hay qua mạng internet, mà chủ yếu bàn về kỹ năng đọc, thói quen đọc, cũng như văn hóa ứng xử với tài liệu. Bởi vì, ĐS dù trên bản sách in hay sách qua mạng thì đều là ĐS nhưng kỹ năng ĐS và văn hóa ứng xử với tài liệu để việc đọc mang lại kết quả cao, giúp người đọc lĩnh hội tri thức tốt nhất là điều quan trọng hơn trong VHĐ, đặc biệt là việc xây dựng một thói quen ĐS cho chính mình và lan tỏa đến những người xung quanh. Trong Phật giáo (PG), Tăng ni sinh viên (TNSV) của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (HVPGVNTPHCM) hầu hết là những tu sĩ đang theo học chương trình đại học, thạc sĩ hay tiến sĩ các chuyên ngành về PG. Tất cả đều có khả năng tự học và tự nghiên cứu, tuy nhiên, TNSV còn nhiều hạn chế về việc PTVHĐ tại học viện vì nhiều lý do.
ĐS trong PG không những để lĩnh hội những lời Phật dạy mà còn để thẩm thấu, nghiền ngẫm và thực tập những lời dạy đó vào trong cuộc sống tu tập hằng ngày. Do đó, PTVHĐ là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa trong HV nói riêng cũng như trong cộng đồng PG nói chung. Với nhu cầu nâng cao tri thức cho bản thân, người viết mong muốn PT nhận thức của bản thân về nhiều vấn đề trong cuộc sống, đặc biệt là về PG và giáo dục, 2 Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 31 of 98. mà phần lớn những kiến thức đó lại nằm trong kinh điển, tài liệu, sách báo.
Chính bản thân người viết cũng thật sự chưa có kỹ năng ĐS, chưa PT được VHĐ cho bản thân. Chính vì vậy, qua thực trạng trên, người viết chọn đề tài: “Phát triển văn hóa đọc cho Tăng Ni sinh viên Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài tốt nghiệp ngành giáo dục học, một mặt, người viết muốn đi sâu tìm hiểu VHĐ trong đời sống TNSV tại HVPGVNTPHCM nói riêng, mặt khác nghiên cứu muốn tìm hiểu nguyên nhân vì sao VHĐ dần đang bị thay thế bởi các truyền thông phương tiện khác. Từ đó, đưa ra biện pháp làm thế nào để cách đọc sách và học hỏi từ những cuốn sách mang lại hiệu quả thực sự trong thời kì hiện nay, đặc biệt với TNSV tại HVPGVNTPHCM. Làm thế nào để duy trì và phát triển văn hóa đọc sách trong nhịp sống hiện đại là câu hỏi không dễ trả lời.
Nghiên cứu kỳ vọng giúp TNSV tại HVPGVNTPHCM không thờ ơ với thư viện mà luôn coi sách là người bạn đồng hành bởi việc học là không có trang cuối cùng. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa những lý luận liên quan đến VHĐ, từ đó tìm hiểu, đưa ra những biện pháp nhằm PT VHĐ cho TNSV tại HV thông qua kết quả khảo sát bảng câu hỏi và thực nghiệm sư phạm. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu chung như trên, luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về VHĐ và PT VHĐ cho TNSV; - Phân tích và đánh giá thực trạng PT VHĐ của TNSV HVPGVNTPHCM; - Đề xuất các biện pháp nhằm PT VHĐ cho TNSV HV; - Tiến hành thực nghiệm sư phạm và phân tích kết quả. 3 Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 32 of 98.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: Giáo thọ sư, và TNSV tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khảo sát được tiến hành trên 2 nhóm khách thể: - Nhóm 1: 30 Giáo Thọ sư/Giảng viên của HV (khảo sát thực trạng công tác PT VHĐ cho TNSV tại HV với 6 câu hỏi ) và 30 GTS (khảo sát tính khoa học, khả thi, cần thiết của các biện pháp PT VHĐ cho TNSV với 3 câu hỏi); - Nhóm 2: 162 TNSV của khóa 14 và 15 tại HV (khảo sát thực trạng VHĐ của TNSV tại HV với 36 câu hỏi) và 100 TNSV của khóa 15 (khảo sát tính khoa học, khả thi, cần thiết của các biện pháp PT VHĐ cho TNSV với 3 câu hỏi và khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp sau thực nghiệm sư phạm với 3 câu hỏi). - Phỏng vấn được thực hiện trên 8 GTS (mã hóa từ GTS 1 đến GTS 8) đối với thực trạng PT VHĐ cho TNSV bao gồm 6 câu hỏi (Phụ lục 4); - Phỏng vấn được thực hiện trên 3 GTS (mã hóa từ GTS 9 đến GTS 11) đối với các biện pháp PT VHĐ cho TNSV bao gồm 3 câu hỏi (Phụ lục 8); - Phỏng vấn được thực hiện trên 6 TNSV (mã hóa từ TNSV 1 đến TNSV 6) đối với việc PT VHĐ của TNSV bao gồm 4 câu hỏi (Phụ lục 3); - Phỏng vấn được thực hiện trên 3 TNSV (mã hóa từ TNSV 7 đến TNSV 9) đối với các biện pháp PT VHĐ cho TNSV bao gồm 3 câu hỏi (Phụ lục 7); - Phỏng vấn được thực hiện trên 2 TNSV (mã hóa: TNSV 10 và TNSV 11) đối với nhận thức và thái độ của TNSV đối với việc PT VHĐ sau thực nghiệm sư phạm (Phụ lục 10). - Đối tượng nghiên cứu: PT VHĐ cho TNSV Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.
4 Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 33 of 98. Giả thuyết nghiên cứu - VHĐ của TNSV và công tác PT VHĐ cho TNSV của HV còn tồn tại nhiều hạn chế; - Điều kiện khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến việc PT VHĐ cho TNSV tại HVPGVNTPHCM; - Các biện pháp nhằm PT VHĐ cho TNSV tại Nội viện như tăng cường tổ chức các hoạt động PT VHĐ cho TNSV tại Nội viện; PT VHĐ cho TNSV thông qua hoạt động dạy học; Tăng cường tổ chức các hoạt động đa dạng và phong phú; Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và nâng cao chất lượng phục vụ của thư viện. - Phương pháp thực nghiệm sư phạm mang lại kết quả tích cực đối với việc PT VHĐ cho TNSV tại Nội viện. Phương pháp nghiên cứu Trong bài luận văn này, người nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính là chủ yếu như sau: 6.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Mục đích: Xây dựng cơ sở lý luận PT VHĐ cho TNSV HVPGVNTPHCM.