Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ ĐỌC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về văn hóa đọc Sách là “kho tàng tri thức của nhân loại”. Đọc sách giúp con người rút ngắn khoảng cách phát triển về nhận thức giữa các nền văn minh trên thế giới, chọn lọc và lĩnh hội những tinh hoa văn hóa qua hàng ngàn năm của lịch sử loài người.
Đọc sách còn giúp con người có thể “đứng trên vai những người khổng lồ”. Nhiều nước trên thế giới đã nhận thức rõ được giá trị của việc đọc sách và đã xây dựng được VHĐ cho người dân ở mỗi quốc gia đó. Tác giả Ngọc Bích (2015) trong bài viết “6 quốc gia "mê đọc" nhất trên thế giới” [30] đã điểm danh Ấn Độ, Israel, Nhật Bản, Đức, Thái Lan, Malaysia là những quốc gia có tỷ lệ đọc sách cao nhất thế giới với các con số ấn tượng như: “Thời gian đọc sách TB một tuần của một người Ấn Độ lên đến gần 11 giờ” [30]; “Israel có hai chỉ số về sách cao nhất thế giới là số lượng sách xuất bản theo đầu người cao nhất thế giới và số người trẻ đọc sách cao nhất thế giới” [30], “Ngày nay, mỗi năm Nhật Bản xuất bản 43. Bình quân mỗi năm một người dân đọc hơn 10 cuốn sách” [30],….
Trong bài viết “Đức: Bùng nổ VHĐ”, tác giả đã cho biết “Ở Đức hiện có gần 11. Điều đặc biệt là người dân Đức đến thư viện nhiều hơn cả rạp chiếu bóng và sân vận động. Trong năm 2009, chỉ có 70 triệu lượt người Đức đến sân vận động, 146 triệu lượt người đi xem phim nhưng có đến 200 triệu lượt người đến thư viện đọc sách” [33]. Ở Nga, trong bài viết “Người Nga đọc gì năm 2020”, tác giả Nghiêm Anh đã đưa ra một số thông tin như: “Nga là một trong những quốc gia có tỉ lệ đọc sách cao nhất trên thế giới” [31], “Theo số liệu thống kê của công ty GFK (Đức), 5 59% người Nga được hỏi trả lời rằng họ đọc sách hàng ngày hoặc ít nhất một tuần một lần” [31]., “TB, mỗi độc giả đã đọc năm cuốn sách trong ba tháng” [31], “Thể loại yêu thích hàng đầu của người Nga là sách về lịch sử, tiểu sử và tiểu thuyết lịch sử (30%)” [31].
Ở Nhật Bản, Nhà nước Nhật sớm nhận thấy tầm quan trọng của việc xây dựng một nền VHĐ trong nhân dân. Vì vậy, “Năm 2001, Nhật Bản ban hành Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em và năm 2005 ban hành Luật Chấn hưng VHĐ” [36]. Người Do Thái ở Israel đã chú trọng việc đọc sách và rèn thói quen đọc sách cho trẻ nhỏ từ hàng trăm năm trước đây.500 người sẽ có 1 thư viện với các đầu sách cực kỳ quý giá, trong số đó khoảng hơn 1.000 là thư viện công cộng. Trong mỗi gia đình Do Thái luôn luôn có 1 tủ sách được truyền từ đời này sang đời khác” [36].
Israel cũng là đất nước “có hai chỉ số về sách cao nhất thế giới là số lượng sách xuất bản theo đầu người cao nhất thế giới và số người trẻ đọc sách cao nhất thế giới” [36]. Thói quen đọc sách từ nhỏ, ở mọi nơi, mọi lúc và sự tồn tại của một nền VHĐ hàng tram năm đã giúp người Do Thái trở thành một “dân tộc thông minh nhất trên thế giới”, đạt được nhiều thành tựu phát triển hàng đầu ở nhiều lĩnh vực. Điểm qua một vài quốc gia trên thế giới cho thấy, VHĐ đã được nhiều quốc gia chú trọng phát triển từ hàng trăm năm trước và giờ đây đã trở thành thói quen ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân, tạo nên nền tảng vững chắc cho sự phát triển KT-XH. Việt Nam là đất nước với những cuộc chiến tranh kéo dài với những hậu quả nặng nề, do đó, điều kiện kinh tế trong giai đoạn đầu của đổi mới cực kỳ khó khăn, do đóm Đảng, Nhà nước và người dân chưa có điều kiện để quan tâm đến vấn đề PTVHĐ.
Trong một bài phỏng vấn trên báo Vietnamnet, GS Chu Hảo đã khẳng định “…ở nước ta, từ hàng mấy chục năm qua, người ta không có thói quen đọc sách” [37]. 6 Gần đây, khi đất nước đã đạt được những thành tựu về kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện, Đảng và Nhà nước ta thể hiện quyết tâm phát triển một nền VHĐ cho đất nước. Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Đề án PTVHĐ trong cộng đồng giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030” [27]. Đề án đã xác định: “VHĐ là hoạt động văn hóa ở tầm cao của một dân tộc” [27].
Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã nghiên cứu về VHĐ ở những góc nhìn khác nhau. Tác giả Hoàng Văn Nam chỉ ra những giá trị, ý nghĩa của hoạt động đọc đối với việc tiếp nhận thông tin trong bài viết “Đọc và ưu thế của VHĐ trong tiếp nhận thông tin” [13, tr. Tác giả Nguyễn Tuyết Lan (2005) nghiên cứu về một số vấn đề cơ bản liên quan đến nhu cầu đọc của trẻ em trong bài viết “Suy nghĩ về nhu cầu đọc của trẻ em ngày nay” [8, tr. Tác giả Phạm Văn Tình (2006) đã phân tích những thay đổi về việc đọc sách trong thời kỳ phát triển internet trong bài viết “Đọc và VHĐ trước ngưỡng cửa thông tin” [37] và khẳng định “chúng ta phải biết tận dụng cơ hội và nắm bắt thời cơ để PTVHĐ khi công nghệ hiện đại giúp chúng ta nối dài cánh tay mình” [38].
Tác giả Phạm Lan Anh (2008) trong cuốn “PP đọc sách tốt nhất cho HS” đã trình bày các PP giúp HS xác định được mục đích đọc, xây dựng được các KN đọc và phân bổ thời gian cho hoạt động đọc [1]. Tác giả Lê Thị Minh Phương (2017), khẳng định “ý nghĩa của việc đọc sách và hình thành thói quen đọc sách cho trẻ em đối với sự hình thành và phát triển nhân cách” trong bài viết “Đọc sách và hướng dẫn đọc sách trong thư viện với sự hình thành và phát triển nhân cách của thiếu nhi” [22, tr. Nhìn chung, VHĐ đã được rất nhiều các quốc gia trên thế giới xây dựng thành công, PTVHĐ được xem là một bộ phận của hoạt động GD và tự GD, là cơ sở để phát triển nguồn lực con người, là điều kiện phát triển KT-XH. Ở Việt 7 Nam, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng đã bước đầu có những định hướng và giải pháp xây dựng nền VHĐ, đưa việc đọc sách trở thành một nét văn hóa cho nhân dân, tạo nền tảng vững chắc hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển GD&ĐT, từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển KT-XH, hội nhập quốc tế.
VHĐ cũng là vấn đề được các nhà GD, nhà nghiên cứu đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu, trong đó, hình thành và PTVHĐ cho thiếu nhi là vấn đề được chú trọng, quan tâm hơn hết. Những nghiên cứu về phát triển văn hóa đọc cho học sinh tiểu học VHĐ không tự nhiên mà có được, nó là kết quả của quá trình hình thành những hành vi lặp đi lặp lại, của sở thích, nhu cầu của từng cá nhân ngay từ lứa tuổi ấu thơ. Vì vậy, vấn đề PTVHĐ nói chung và PTVHĐ cho HS TH nói riêng cũng là vấn đề mà những người làm công tác phát triển GD, xây dựng nguồn nhân lực tương lai cho đất nước đặc biệt quan tâm. Những nghiên cứu về PTVHĐ nói chung đề cập đến vấn đề này ở nhiều phạm vi khác nhau.
Trên bình diện quốc gia, hướng tới xây dựng một nền VHĐ cho đất nước, tác giả Nguyễn Hữu Viêm (2007) trong bài viết “Đọc và PTVHĐ ở Việt Nam” đã phân tích những quan điểm về VHĐ, chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế trong việc PTVHĐ ở nước ta hiện nay và đề xuất một số giải pháp mang tầm vĩ mô nhằm “phát triển nền văn hoá đọc Việt Nam hiện đại, xây dựng một XH ham đọc, để đáp ứng với XH thông tin, nền kinh tế tri thức và một XH phát triển bền vững, có thể xứng ngang tầm với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” [40]. Tác giả Vũ Dương Thúy Ngà (2010) đã “đề cập đến bản chất và đòi hỏi khách quan của việc PTVHĐ, phân tích mặt tích cực và hạn chế của VHĐ nước ta và nêu ra 8 giải pháp để PTVHĐ trong cộng đồng” [36]. Các nghiên cứu về PTVHĐ cho thiếu nhi nói chung có thể kể đến gồm: Các ấn phẩm của Trần Thị Minh Nguyệt (2006, 2007) gồm: “Đọc sách và sự phát triển nhân cách thiếu nhi” [16, tr. 44-46], “GD văn hoá đọc cho lứa tuổi 8 thiếu nhi” [16, tr.], “Hướng dẫn thiếu nhi đọc sách trong thư viện” [17].
Các ấn phẩm trên đã làm rõ vai trò, tầm quan trọng của việc đọc sách đối với sự phát triển của trẻ em, đồng thời định hướng các biện pháp GD VHĐ cho thiếu nhi từ phía các chủ thể như nhà nước, nhà trường, gia đình, cộng đồng,…Tác giả cũng đã hướng dẫn cách lựa chọn sách, định hướng cách đọc sách có hiệu quả cho trẻ em khi tham gia đọc sách ở thư viện. Cũng cùng mục đích giúp trẻ em biết cách lựa chọn sách, làm thế nào để đọc và ghi nhớ hiệu quả, tác giả Nguyễn Minh Thuận (2001) đã tổ chức nghiên cứu đề tài “Hướng dẫn thiếu nhi đọc sách tại thư viện Hà Nội” [28]. Nghiên cứu chỉ giới hạn phạm vi cho trẻ em ở Hà Nội nhưng cũng có nhiều ND có thể vận dụng ở một số địa phương khác. Tác giả Nguyễn Tấn Thanh Trúc (2011) đã nhận thấy sự khác biệt, chênh lệch rõ rệt về KN đọc giữa trẻ em ở thành phố, nơi có những điều kiện thuận lợi hơn, thường xuyên được tiếp xúc với sách báo hơn với KN đọc của trẻ em ở các vùng nông thôn, nơi mà trẻ ít được tiếp xúc với sách vở và các nguồn thông tin.
Từ đó, tác giả nghiên cứu về vấn đề “Làm thế nào để rút ngắn khoảng cách kĩ năng đọc giữa trẻ thành thị và nông thôn” [29, tr. Ở phạm vi nhà trường, các nghiên cứu về PTVHĐ cho HS cũng được các nhà nghiên cứu xem xét theo những đối tượng và phạm vi khác nhau. VHĐ được tác giả Lê Thị Luận quan tâm ngay từ bậc mầm non. Trong bài viết “Thư viện thân thiện với trẻ em dựa vào cộng đồng” [11, tr.