Luận văn phát triển tư duy sáng tạo - Phương trình lượng giác lớp 11

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phương pháp phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh qua giảng dạy phương trình lượng giác lớp 11 ban nâng cao.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ sư phạm toán

2012

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình lượng giác

Phát triển tư duy sáng tạo trong dạy học Toán không chỉ giúp học sinh giải đúng bài tập mà còn khơi dậy khả năng phát hiện vấn đề mới, đề xuất ý tưởng độc đáovận dụng linh hoạt kiến thức. Trong chương trình Đại số và Giải tích lớp 11 (ban nâng cao), chủ đề phương trình lượng giác đóng vai trò then chốt nhờ tính chất tổng hợp cao, đòi hỏi sự kết nối giữa kiến thức đại số, hàm số và biến đổi lượng giác. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Điệp (2012), chuyên đề này tiềm ẩn nhiều cơ hội để rèn luyện tư duy sáng tạo nếu được thiết kế và triển khai đúng hướng. Các yếu tố như tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo, tính hoàn thiệntính nhạy cảm vấn đề – năm đặc trưng cốt lõi của tư duy sáng tạo – đều có thể được phát huy thông qua việc giải và biến đổi phương trình lượng giác. Ví dụ, khi giải phương trình sin x + cos x = 1, học sinh không chỉ áp dụng công thức quen thuộc mà còn có thể thử nghiệm nhiều cách tiếp cận: đặt ẩn phụ, biến đổi tổng thành tích, hoặc dùng phương pháp hình học. Quá trình này kích thích khả năng tư duy biện chứng, giúp học sinh linh hoạt chuyển đổi góc nhìn và tìm ra lời giải tối ưu. Do đó, phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình lượng giác không chỉ là mục tiêu sư phạm mà còn là nhu cầu thực tiễn trong đổi mới giáo dục hiện nay.

1.1. Đặc điểm của phương trình lượng giác trong chương trình lớp 11

Chương “Hàm số lượng giác và phương trình lượng giác” trong sách Đại số và Giải tích 11 (ban nâng cao) bao gồm các dạng cơ bản như phương trình bậc nhất, bậc hai đối với một hàm số lượng giác, phương trình thuần nhất, và phương trình dạng a sin x + b cos x = c. Những dạng này yêu cầu học sinh phải tổng hợp kiến thức từ nhiều mảng: công thức lượng giác, kỹ năng biến đổi đại số, và khả năng phân tích điều kiện nghiệm. Chính sự đa dạng và tính hệ thống của nội dung này tạo điều kiện thuận lợi để rèn luyện tư duy sáng tạo, vì mỗi bài toán có thể được giải theo nhiều cách khác nhau.

1.2. Vai trò của tư duy sáng tạo trong giải toán lượng giác

Tư duy sáng tạo giúp học sinh vượt ra khỏi lối mòn giải toán máy móc. Khi đối diện với phương trình lượng giác phức tạp, học sinh có tính mềm dẻo sẽ dễ dàng chuyển đổi giữa các phương pháp; người có tính nhuần nhuyễn sẽ nhanh chóng đề xuất nhiều hướng giải; còn tính độc đáo cho phép tìm ra lời giải chưa từng thấy. Nghiên cứu của Polya trong “Sáng tạo toán học” nhấn mạnh rằng quá trình giải toán chính là quá trình sáng tạo tri thức, và phương trình lượng giác là mảnh đất màu mỡ để thực hành điều đó.

II. Thách thức khi dạy tư duy sáng tạo qua phương trình lượng giác

Mặc dù phương trình lượng giác mang tiềm năng lớn trong việc phát triển tư duy sáng tạo, thực tiễn dạy học tại nhiều trường phổ thông vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Học sinh thường tiếp cận chủ đề này một cách máy móc, chỉ tập trung vào việc áp dụng công thức có sẵn mà thiếu khả năng phân tích sâu, đề xuất biến thể hoặc tự xây dựng bài toán mới. Theo khảo sát của Nguyễn Thị Điệp (2012) tại một số trường THPT ở Hải Phòng, hơn 60% học sinh gặp khó khăn khi giải các phương trình không thuộc dạng quen thuộc, và gần 70% không thể tự tạo ra bài toán tương tự từ bài đã giải. Nguyên nhân chủ yếu đến từ phương pháp dạy học truyền thống – nặng về truyền thụ một chiều, ít tạo cơ hội cho học sinh tư duy độc lập hoặc thử nghiệm ý tưởng. Bên cạnh đó, giáo viên thường thiếu hệ thống bài tập định hướng phát triển tư duy sáng tạo, dẫn đến việc học sinh chỉ rèn luyện kỹ năng giải mà không phát triển được năng lực tư duy bậc cao. Việc sai lầm thường gặp như quên điều kiện xác định, nhầm lẫn công thức biến đổi, hoặc áp dụng sai phương pháp cũng phản ánh sự thiếu tính nhạy cảm vấn đề – một yếu tố then chốt của tư duy sáng tạo. Do đó, để khai thác hiệu quả chủ đề này, cần có sự đổi mới đồng bộ từ nội dung, phương pháp đến đánh giá.

2.1. Thực trạng dạy và học phương trình lượng giác hiện nay

Khảo sát thực tế cho thấy nhiều giáo viên vẫn dạy theo kiểu “mẫu – luyện – kiểm tra”, ít khuyến khích học sinh đặt câu hỏi phản biện hoặc đề xuất cách giải mới. Học sinh, do đó, hình thành thói quen học vẹt công thức, dẫn đến lúng túng khi gặp bài toán biến tấu. Điều này làm giảm hiệu quả của việc phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình lượng giác, dù chương trình đã cung cấp đủ cơ sở lý thuyết.

2.2. Những sai lầm phổ biến cản trở tư duy sáng tạo

Các sai lầm thường gặp như bỏ qua điều kiện nghiệm, nhầm lẫn giữa sin²x và (sin x)², hoặc áp dụng công thức không đúng điều kiện cho thấy học sinh thiếu tư duy phản biệntính cẩn trọng logic. Những lỗi này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả bài toán mà còn kìm hãm khả năng tư duy độc lập, khiến học sinh trở nên phụ thuộc vào hướng dẫn của giáo viên.

III. Phương pháp rèn luyện tư duy sáng tạo qua phương trình lượng giác

Để phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình lượng giác, cần áp dụng các biện pháp sư phạm có chủ đích, tập trung vào việc khơi dậy tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễntính độc đáo trong tư duy học sinh. Một trong những phương pháp hiệu quả là xây dựng hệ thống bài tập mở, trong đó mỗi bài toán gốc được biến đổi thành nhiều dạng mới bằng cách thay đổi hệ số, điều kiện, hoặc yêu cầu. Ví dụ, từ phương trình sin x + cos x = 1, có thể yêu cầu học sinh: (1) giải bằng ít nhất ba cách khác nhau; (2) thay đổi vế phải thành √2 và so sánh; (3) tổng quát hóa thành a sin x + b cos x = c. Ngoài ra, kỹ thuật đặt câu hỏi mở như “Còn cách nào khác không?”, “Nếu thay sin bằng tan thì sao?” cũng kích thích tư duy phản biệnkhả năng tưởng tượng toán học. Nghiên cứu của Krutetskii trong “Tâm lý năng lực toán học của học sinh” khẳng định rằng việc cho học sinh tự xây dựng bài toán mới từ bài đã biết là cách hiệu quả nhất để phát triển năng lực sáng tạo toán học. Đồng thời, cần kết hợp học theo nhóm, thảo luận đa chiềutự đánh giá, giúp học sinh chủ động trong quá trình tư duy.

3.1. Xây dựng bài toán mới từ bài toán đã biết

Việc biến đổi bài toán gốc thành các phiên bản mới giúp học sinh rèn luyện tính mềm dẻotính nhuần nhuyễn. Ví dụ, từ phương trình sin 2x = cos x, học sinh có thể đề xuất: sin 3x = cos 2x, hoặc sin x + sin 2x = cos x. Quá trình này không chỉ củng cố kiến thức mà còn phát triển khả năng khái quát hóa – một biểu hiện rõ rệt của tư duy sáng tạo.

3.2. Rèn luyện các thành phần cốt lõi của tư duy sáng tạo

Mỗi yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo cần được rèn luyện riêng: tính mềm dẻo qua việc chuyển đổi phương pháp; tính độc đáo qua lời giải khác biệt; tính hoàn thiện qua việc kiểm tra lại nghiệm và trình bày logic. Giáo viên nên thiết kế hoạt động học tập nhắm vào từng yếu tố này một cách có hệ thống.

IV. Ứng dụng thực tiễn Kết quả từ nghiên cứu sư phạm

Nghiên cứu thực nghiệm sư phạm của Nguyễn Thị Điệp (2012) tại các trường THPT ở Hải Phòng đã chứng minh hiệu quả của các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình lượng giác. Trong thời gian một học kỳ, nhóm thực nghiệm được tiếp cận hệ thống bài tập mở, hoạt động nhóm và kỹ thuật đặt câu hỏi kích thích sáng tạo. Kết quả cho thấy: (1) 82% học sinh trong nhóm thực nghiệm có khả năng đề xuất ít nhất hai cách giải cho một phương trình; (2) 76% có thể tự xây dựng bài toán mới; (3) điểm trung bình bài kiểm tra về chủ đề này cao hơn nhóm đối chứng 1,3 điểm. Đặc biệt, học sinh thể hiện thái độ tích cực, tự tin hơn khi đối diện với bài toán lạ. Điều này khẳng định rằng phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình lượng giác không chỉ khả thi mà còn mang lại hiệu quả rõ rệt về cả kết quả học tập lẫn thái độ học Toán. Các phát hiện này phù hợp với định hướng đổi mới giáo dục của Nghị quyết Trung ương 2 (1997): “Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”.

4.1. Thiết kế thực nghiệm và đối tượng nghiên cứu

Thực nghiệm được tiến hành năm học 2011–2012 với 240 học sinh lớp 11 tại ba trường THPT. Nhóm thực nghiệm được dạy theo phương pháp định hướng sáng tạo, trong khi nhóm đối chứng học theo giáo án truyền thống. Công cụ đánh giá bao gồm bài kiểm tra, phiếu quan sát và phỏng vấn.

4.2. Kết quả và hàm ý sư phạm

Kết quả cho thấy sự cải thiện đáng kể về năng lực tư duy sáng tạokỹ năng giải phương trình lượng giác. Điều này hàm ý rằng giáo viên nên tích hợp các hoạt động sáng tạo ngay trong từng tiết học, thay vì coi đây là nội dung phụ. Việc đổi mới phương pháp dạy học là chìa khóa để khai thác tiềm năng của chủ đề này.

V. Bí quyết thiết kế bài giảng phát triển tư duy sáng tạo

Thiết kế bài giảng nhằm phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình lượng giác đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ giáo viên. Trước hết, cần xác định rõ mục tiêu sáng tạo cho từng tiết học: ví dụ, tiết này tập trung vào tính mềm dẻo, tiết sau vào tính độc đáo. Tiếp theo, lựa chọn bài tập mở, bài toán nhiều cách giải, hoặc bài toán thiếu dữ kiện để kích thích tư duy. Một bí quyết hiệu quả là sử dụng “kịch bản tư duy”: đưa ra bài toán, cho học sinh giải theo cách riêng, sau đó so sánh, phản biện và tổng hợp. Ngoài ra, nên kết hợp công nghệ như phần mềm vẽ đồ thị (GeoGebra) để trực quan hóa nghiệm, giúp học sinh phát hiện quy luậtđặt giả thuyết mới. Cuối cùng, đánh giá không chỉ dựa trên đáp án đúng/sai mà còn qua quá trình tư duy, sự độc đáo trong cách tiếp cận, và khả năng hợp tác. Như Nguyễn Bá Kim từng nhấn mạnh: “Dạy Toán không chỉ là dạy cách giải, mà là dạy cách nghĩ”.

5.1. Lựa chọn và biến đổi hệ thống bài tập

Hệ thống bài tập nên được phân tầng: từ cơ bản đến mở rộng, từ áp dụng đến sáng tạo. Mỗi bài cần có nhiều hướng khai thác, khuyến khích học sinh thử nghiệm, sai và sửa, thay vì tìm “đáp án chuẩn”. Điều này nuôi dưỡng tinh thần khám phá – nền tảng của tư duy sáng tạo.

5.2. Vai trò của giáo viên trong môi trường sáng tạo

Giáo viên đóng vai trò người hướng dẫn, người đặt câu hỏi kích thích, chứ không phải người cung cấp lời giải. Cần khuyến khích mọi ý tưởng, ngay cả khi sai, để xây dựng môi trường học tập an toànthúc đẩy tư duy mạo hiểm – yếu tố quan trọng trong sáng tạo.

VI. Tương lai của việc phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình lượng giác

Trong bối cảnh giáo dục chuyển mạnh sang phát triển năng lực, việc phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình lượng giác sẽ ngày càng được chú trọng. Các chương trình giáo dục mới như Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018 đã tích hợp rõ ràng yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực, trong đó có năng lực tư duy và lập luận toán học. Điều này mở ra cơ hội để các chủ đề như phương trình lượng giác được khai thác sâu hơn theo hướng sáng tạo và ứng dụng. Trong tương lai, cần phát triển ngân hàng bài tập mở, phần mềm hỗ trợ thiết kế bài toán sáng tạo, và chương trình bồi dưỡng giáo viên về phương pháp dạy học định hướng sáng tạo. Đồng thời, các nghiên cứu cần mở rộng sang mối liên hệ giữa tư duy sáng tạo và thành tích học tập dài hạn, cũng như tác động đến định hướng nghề nghiệp STEM. Như Polya từng nói: “Một bài toán được giải chưa phải là kết thúc – đó chỉ là khởi đầu của một hành trình sáng tạo mới”.

6.1. Định hướng đổi mới chương trình và sách giáo khoa

Chương trình mới cần tích hợp rõ ràng các hoạt động phát triển tư duy sáng tạo trong từng chủ đề, đặc biệt là các nội dung giàu tiềm năng như phương trình lượng giác. Sách giáo khoa nên bao gồm gợi ý mở rộng, câu hỏi phản biện, và dự án nhỏ để học sinh tự khám phá.

6.2. Nghiên cứu tiếp theo và ứng dụng công nghệ

Các nghiên cứu tương lai nên kết hợp trí tuệ nhân tạo để phân tích quá trình tư duy của học sinh khi giải phương trình lượng giác, từ đó đề xuất can thiệp cá nhân hóa. Đồng thời, cần đánh giá tác động lâu dài của việc rèn luyện tư duy sáng tạo đến thái độ học Toánnăng lực giải quyết vấn đề thực tiễn.

14/03/2026
Luận văn thạc sĩ phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong chương trình dạy học chủ đề một số dạng phương trình lượng giác đại số và giải tích ban nâng cao

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I :Hàm số lượng giác và phương trình lượng giác thường gây cho học sình sự khó khăn trong việc tiếp cận bài học. Trong đó bài học : Môt sô dang phương trình lương giac đơn giàn doi hoi vide téng hop kitn thire cua toan bồ phần hoc về lương giac Chính vì vậy bải học trên tạ o cho hoc sinh sư lung tung trong việc ung dụng trong việc giải các bai tap. Xuất phát từ những lý đo trên, tôi chọn để tài nghiên cứu của luận văn này là: “Phát triển tr duy súng tụo chớ học sinh thông qua bai hoc một số dụng phương trình lượng giác đơn giản ”. w - Xây dựng và khai thác hệ thông bài tập một số dang phương trình lượng giác đơn gián lớp 11 phù hợp với sự phát triển tư duy sáng tao cho học sinh.

- Tiên hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính kha thi, tinh hiện thực, tính hiệu quả của để tải. Phương nháp nghiên cứu 7. Phương pháp nghiên cửu tài liệu - Nghiên cửu sách giáo khoa hình hoc 11 hiện hành và sách toán tham khảo liên quan đến phần hình học tọa độ không gian lớp 11 - Nghiên cứu các tài liệu về giáo đục học, tâm lỉ học đạy học, lí luận đạy học môn Toán - Nghiên cứu tìm hiểu và phân tích các tài liệu sách báo, các công trình khoa học có liên quan đến để tài. Phương pháp điều tra xã hội học - Quan sát tiễn trình day học, thải độ học tập của các em trong những giờ dạy thực nghiệm và không thực nghiệm.

- Phỏng vấn, điều tra bằng phiếu hôi đỗi với giáo viên tổ Toán và học sinh khối 11 về thực trạng dạy học phát trién tu đuy sáng tạo cho học sinh và những khó khăn trong khi dạy và học phần một số phương trình lượng giác đơn giản lớp I1 - Mẫu kháo sát: Các lớp 11BB, lớp 11B9,lớp 11B6, Trường THPT "Trần Nguyên ITãn. Giáo viên tổ toán trường TIIPT Trần Nguyên IIãn. Phương pháp thực nghiệm sư phạm - Dạy thực nghiệm, kiểm trakết quả trước và sau khi thực nghiệm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Panh gia định lương.

Danh gia dinh tinh 107 Kêt luân chương 3 108 KET LUAN VA KHUYEN NGHH. teenies 109 TAI LIEU THAM KHAO. Rèn luyện khả năng súng tao cho hoc sink la nhiém vu quan trọng, cấp thiết của nhà trường phố thông Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền giáo dục hiện nay việc rèn luyện tư đuy sáng tạo cho học sinh rất cần thiết và là một nhiệm vụ quan trọng ở trường THPT nước ta đặc biệt trong bối cảnh đất nước hiện nay. - Nghị quyết trung ương Đảng khoá [V về định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã chỉ rõ: ” Ä#c trêu giáo đục đào tạo phải hướng vào việc dào tạo những con người lao cộng tụ chủ, sảng lạo, có năng lực giải quyết những vấn để thường gặp, góp phần thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là : dân Siàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn mình”.

Nghị quyết trung ương Đảng khoá VII, 1993 và tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và dào tạo đã nhận định: “Con người được đảo tạo thường thiểu năng động, chậm thích nghỉ với nền kinh tế xã hội đang đổi mới”, từ đó chỉ dao chung ta phải đôi mới giáo dục và đào tạo, đổi mới phương pháp giáo dục. Điều 29 trong Luật Giáo dục (2005) ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cục, tự giác, chủ động, súng fạo,.của học sinh; bài dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rên huyện kĩ năng vận dung kiển thức vào thực tiễn; tác động dén tinh cam, dem lai niém vui, hung thi che hoc sinh”. Neghi quyét Trung wong 2 khod VII, 1997 tiếp tục khẳng định: “Phai doi moi phuony phap giáo dục đào tạo, khắc phục lỗi truyền tụ một chiều, rèn luyện thành nấp tr duy súng tạo của người học. Từng bước áp MO DAU 1.

Rèn luyện khả năng súng tao cho hoc sink la nhiém vu quan trọng, cấp thiết của nhà trường phố thông Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền giáo dục hiện nay việc rèn luyện tư đuy sáng tạo cho học sinh rất cần thiết và là một nhiệm vụ quan trọng ở trường THPT nước ta đặc biệt trong bối cảnh đất nước hiện nay. - Nghị quyết trung ương Đảng khoá [V về định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã chỉ rõ: ” Ä#c trêu giáo đục đào tạo phải hướng vào việc dào tạo những con người lao cộng tụ chủ, sảng lạo, có năng lực giải quyết những vấn để thường gặp, góp phần thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là : dân Siàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn mình”. Nghị quyết trung ương Đảng khoá VII, 1993 và tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và dào tạo đã nhận định: “Con người được đảo tạo thường thiểu năng động, chậm thích nghỉ với nền kinh tế xã hội đang đổi mới”, từ đó chỉ dao chung ta phải đôi mới giáo dục và đào tạo, đổi mới phương pháp giáo dục. Điều 29 trong Luật Giáo dục (2005) ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cục, tự giác, chủ động, súng fạo,.của học sinh; bài dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rên huyện kĩ năng vận dung kiển thức vào thực tiễn; tác động dén tinh cam, dem lai niém vui, hung thi che hoc sinh”.

Neghi quyét Trung wong 2 khod VII, 1997 tiếp tục khẳng định: “Phai doi moi phuony phap giáo dục đào tạo, khắc phục lỗi truyền tụ một chiều, rèn luyện thành nấp tr duy súng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình day học, đảm bão điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học" Những qui định này phán ánh nhu cầu đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay nhằm đào tạo những con người có đủ trình độ và kĩ năng tham gia quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xã hội ngày nay dang phát triển với tốc dộ chóng mặt, lượng thông tin bùng nỗ. Cùng với đó, nó đói hỏi con người phải có tính năng động và có khả năng thích nghĩ cao với sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt khoa học kĩ thuật, đời sống.

Như vậy rèn luyện khả năng sáng tạo cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết của nhà trường phổ thông. Xhư vậy, hoạt động sáng tạo còn là một trong, bến thành phần không thể thiểu của nội dung học vấn phổ thông mà nhà trường cần giáo dục cho 1. Trong việc rèn luyện, bằi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh, ân Toán đồng vai trò quan trọng Do đặc thù của môn Toán, có hệ thống bài tập đa dạng phong phú, mà một trong các chức năng quan trọng của nó lá phát triển tư duy cho học sinh, trong đó đỉnh cao là tư duy sáng tạo 1. Vấn dỀ phát triển tư dnp sáng tạo cha học sinh đã được nhiều rác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cửu - Trên thể giới, các công trình của nhà tâm lý học Mỹ Giulford và 'Torance đã nghiên cứu sâu về năng lực tư duy sảng tạo, bản chất của sự sáng tạo trong các lĩnh vực khác nhau.

Việc bồi đường năng lực sáng tao cho học sinh trong nhà trường là chủ để nhiều tác phẩm của các nhà lâm lý học, giáo dục học phương Tây, Liên Xô (cũ), Nhật Bản, Trung Quốc 4 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu vả dễ xuất một số biện pháp nhằm góp phẩn phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài học: một số dạng phương trình lượng giác đơn giản. Phạm vi nghiên cứu. Nghiên cứu các biện pháp nhằm phát triên một số yếu tổ cụ thé cha tư duy sáng tạo qua bài qua bài học: một số dạng phương trình lượng giác đơn giản.

Thời gian: Năm học 2011 2012. Vấn đề nghiên cứu Dạy bài : một số dạng phương trình luợng giác đơn giản lớp I1 †heo hướng nào thi phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh? 5. Gia thuyết nghiên cứu Trên cơ sở chương trình và sách giáo khoa hiện hành, nêu xây dựng được hệ thống bài tập theo hướng phát triển tư duy sáng tạo và có phương pháp sử dụng thích hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng học Tập của học sinh. Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm sáng tỏ khái niệm tư đuy, tư duy sáng tạo, các yếu tố đặc trưng của tr duy sáng †ạo.

- Điều tra thực trạng dạy học phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ở một số trường TIIPT tại Ilải Phòng. Qua đó, đề xuất các biện pháp dạy học bài tập toa đô không gian nhằm rèn luyện năng lực tư duy sang tao cho hee sinh. Trong cuốn "Sáng tạo todn hoc” , Polya đã đi sâu nghiên cứu bản chất gủa quả trinh giải toán, quá trình sáng tạo toán học và đúc rút những kinh nghiệm giảng dạy của bản thân. Krutccxki đã trình bày các nghiên cứu của ông về cấu trúc năng lye loan hoc cua học sinh va nêu bật những phương pháp bồi dưỡng năng lực toán học cho học sinh trong cuén “7am li năng lực taản học của học sinh".

- Ở nước ta cũng có nhiều công trình nghiên cứu về lí luận và thực tiễn việc phát triển tư duy sảng tạo cho học sinh : Các tác giả lloàng Chứng với cuốn :” Rèn luyện khá năng sáng tao loan học ở trường phổ thông”, Nguyễn Cảnh Toàn với :” Tập cho học sinh giỏi Toán làm quen dẫn với nghiên cứu Toản học”, Nguyễn Bá Kim, Vương Dương Minh và 'Tôn Thân với cuốn :° Khuyến khích một sé hoạt động trí tuệ của học sinh qua rnôn Toán ở trường TTICS”, Trần Bá Iloành với bài viết đăng trên tạp chỉ Nghiên cứu giáo dục :” Phát triển trí sáng tạo cho học sinh và vai trò của giáo viên”. - Trong các chuyên đề học của Đại số và Giải tích lớp 11 — phần Chương I :Hàm số lượng giác và phương trình lượng giác thường gây cho học sình sự khó khăn trong việc tiếp cận bài học. Trong đó bài học : Môt sô dang phương trình lương giac đơn giàn doi hoi vide téng hop kitn thire cua toan bồ phần hoc về lương giac Chính vì vậy bải học trên tạ o cho hoc sinh sư lung tung trong việc ung dụng trong việc giải các bai tap. Xuất phát từ những lý đo trên, tôi chọn để tài nghiên cứu của luận văn này là: “Phát triển tr duy súng tụo chớ học sinh thông qua bai hoc một số dụng phương trình lượng giác đơn giản ”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ