CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực và dạy học phát triển năng lực 1. Quan điểm tâm lý học về năng lực Theo [15], “năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả; hay nói cách khác, năng lực là khả năng vận dụng các kiến thức, kỹ năng, thái độ, niềm tin, giá trị… vào việc thực hiện các nhiệm vụ trong những hoàn cảnh cụ thể của thực tiễn”.
[15] Về bản chất, năng lực là thuộc tính tâm lý của riêng từng người, phản ánh các quan hệ tác động vào khách thể bởi chủ thể. Khác với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực là đặc điểm tâm lý ở người mà có thể tạo thành các điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Phân loại năng lực Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau như năng lực học tập, giao tiếp… Năng lực chuyên biệt là sự kết hợp độc đáo thuộc tính chuyên biệt đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên môn và là điều kiện cho hoạt động này đạt kết quả tốt. Cấu trúc của năng lực Cấu trúc của năng lực gồm ba phần: Thứ nhất, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với hoạt động.
Thứ hai, năng lực được hình thành dựa trên hoạt động. Thứ ba, động cơ, hứng thú tạo ra xu hướng hoạt động. Cấu trúc của năng lực được mô hình hóa dưới dạng tảng băng. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực 1. Làm Hành vi (quan sát được) 2. Suy nghĩ Kiến thức, kỹ năng, thái độ, chuẩn giá trị, niềm tin 3. Mong muốn Động cơ, nét nhân cách, tư chất (nguồn: giáo trình môn Tổ chức hoạt động dạy học phát triển năng lực, Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội) 1.
Dạy học và sự hình thành, phát triển năng lực ở người học Sự phát triển năng lực ở từng người phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của cộng đồng mà chủ thể sống trong đó. Để có thể hình thành và phát triển năng lực ở người học, người học cần được tiếp xúc với tri thức, với thế giới đối tượng, từ đó có thể biến những năng lực của nhân loại thành năng lực của chính mình. Bởi vậy, năng lực của mỗi người được hình thành và phát triển thông qua dạy học và giáo dục. Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực Theo [5], phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. Những định hướng chung mang tính tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là: Cần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (thông qua sách giáo khoa, lắng nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin, .), từ đó trau dồi phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể lựa chọn linh hoạt các phương pháp chung và đặc thù của môn học để thực hiện, tuy nhiên phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
Việc sử dụng phương pháp dạy học cần gắn liền với lựa chọn các hình thức tổ chức phù hợp. Tuỳ vào mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có hình thức tổ chức thích hợp (học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp. Cần chuẩn bị, lên kế hoạch về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, ứng dụng kiến thức vào thực tiễn nhằm nâng cao hứng thú cho người học. Cần sử dụng hiệu quả các thiết bị dạy học tối thiểu đã qui định, có thể sử dụng đồ dùng dạy học tự làm nếu cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh.
Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Một số vấn đề chung về tư duy 1. Khái niệm tư duy Theo từ điển Tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 1977: Tư duy là “giai đoạn của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí”. [28] Theo Từ điển Giáo dục học: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, cho phép phản ánh được bản chất và các mối quan hệ của sự vật khách quan mà con người không nhận biết được bằng tri giác và cảm giác trực tiếp hoặc bằng biểu tượng”.
[13] Theo Từ điển Triết học: “Tư duy - sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận. Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật của thực tại”. [24] Theo “Rèn luyện tư duy trong dạy học toán” (Trần Thúc Trình): “Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những bản chất, những mối quan hệ có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng mà trước đó chủ thể chưa biết”. [25] Mặc dù có nhiều cách phát biểu khác nhau về tư duy, nhưng điểm chung của các quan điểm trên là: Tư duy là quá trình nhận thức đặc biệt chỉ có ở con người, phản ánh hiện thực khách quan vào trí óc con người dưới dạng khái niệm, phán đoán, lý luận.
Tư duy là sản phẩm hoạt động xã hội, bao hàm quá trình nhận thức tiêu biểu như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, phát hiện và giải quyết vấn đề. Kết quả của tư duy là một ý nghĩa về sự vật, hiện tượng nào đó, và ở mức độ cao hơn, là một tư tưởng nào đó hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Đặc điểm của tư duy Theo [21], tư duy thuộc mức độ nhận thức lý tính, nó có những đặc điểm cơ bản: - Tính “có vấn đề”: Tư duy chỉ xuất hiện khi gặp những hoàn cảnh, tình 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com huống “có vấn đề”, nghĩa là tình huống chứa đựng một vấn đề mới mà với hiểu biết và phương pháp hành động cũ, ta không đủ sức giải quyết. Muốn đạt được mục đích mới, con người phải tìm giải pháp mới để giải quyết, tức là phải tư duy.
- Tính gián tiếp: Con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy. Thông qua đó, con người sử dụng các kết quả nhận thức vào quá trình tư duy để tiếp cận được bản chất của sự vật hiện tượng, từ đó mở rộng không giới hạn khả năng nhận thức. - Tính trừu tượng và khái quát: Tư duy không phản ánh sự vật hiện tượng một cách cụ thể, riêng lẻ mà có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cá biệt cụ thể chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều sự vật và hiện tượng. Do đó, tư duy khái quát những sự vật, hiện tượng riêng lẻ và có các thuộc tính bản chất chung thành một nhóm, một loại, một phạm trù.
Đặc tính này của tư duy giúp mỗi cá nhân giải quyết được những nhiệm vụ ở hiện tại và có thể giải quyết được cả nhiệm vụ ở tương lai. - Tư duy và ngôn ngữ: Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy ở con người không thể diễn ra được bởi ngôn ngữ có vai trò cố định lại các kết quả của tư duy, là phương tiện biểu đạt kết quả của tư duy. Ngược lại, nếu không có tư duy, ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm thanh vô nghĩa, muốn phát triển tư duy phải gắn với trau dồi ngôn ngữ.
Tuy vậy, ngôn ngữ không phải là tư duy mà chỉ là phương tiện của tư duy. - Tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính: X. Rubinstein khẳng định “Nội dung cảm tính bao giờ cũng có trong tư duy trừu tượng, tựa hồ như làm thành chỗ dựa cho tư duy”. Tư duy thường bắt đầu từ nhận thức cảm tính, trên cơ sở đó mà nảy sinh “tình huống có vấn đề”.
[21] - Tư duy là một quá trình: Tư duy được xét như một quá trình, nghĩa là tư 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com duy có nảy sinh, diễn biến và kết thúc. Cụ thể , gồm bốn bước cơ bản sau: + Xác định vấn đề và biểu đạt thành nhiệm vụ tư duy. + Huy động tri thức, vốn kinh nghiệm, liên tưởng, hình thành giả thuyết. + Xác định tính đúng sai của giả thuyết: nếu giả thuyết đúng thì đến bước tiếp theo, nếu sai thì phủ định nó và hình thành một giả thuyết mới.
+ Đánh giá kết quả của quá trình tư duy, đưa ra sử dụng. Quá trình tư duy bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau được minh họa bởi sơ đồ (do K. Các giai đoạn của quá trình tư duy (nguồn: Phạm Hồng Quý, Tạp chí Tâm lý học thứ Tư, 19/10/2005) 1. Các thao tác tư duy cơ bản Trong cuốn “Tâm lý học giáo dục” [15], tác giả có đưa ra các thao tác tư duy cơ bản như sau: - Phân tích và tổng hợp: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phân tích là quá trình sử dụng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành những “bộ phận”, thuộc tính hay mối liên hệ và quan hệ giữa chúng để nhận thức đối tượng một cách sâu sắc hơn.
Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để hợp nhất những “bộ phận” đã được phân tích.