Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN TƯ DUY KHOA HỌC TRONG HỌC TẬP CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO CÁN BỘ CHÍNH TRỊ CẤP PHÂN ĐỘI TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ 1. Một số vấn đề lý luận về phát triển tư duy khoa học trong học tập các môn khoa học xã hội và nhân văn cho học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội tại Trường Sĩ quan Chính trị 1. Quan niệm về tư duy khoa học và tư duy khoa học trong học tập các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội tại Trường Sĩ quan Chính trị 1.Quan niệm về tư duy và tư duy khoa học * Quan niệm về tư duy Ngay từ rất sớm, khi con người ý thức được sự tồn tại của mình trong thế giới tự nhiên và thể hiện khát vọng làm chủ cuộc sống chinh phục thiên nhiên, con người đã không ngừng cải tạo thế giới khách quan, bắt tự nhiên phục vụ cho nhu cầu của mình. Hoạt động đó của con người là một hoạt động hoàn toàn có ý thức mang tính sáng tạo, nó khác hoàn toàn so với bản năng sinh tồn của loài vật, con người sử dụng bộ não của mình để xác định công việc và cách thức để thực hiện công việc ấy.
Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, có mục đích rõ ràng. Đặc trưng cơ bản trong lao động của con người là hoạt động có tính chất tái tạo và sáng tạo. Để tiến hành lao động đạt được mục đích, con người phải phản ánh những thuộc tính của tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người. Con người từng bước tìm ra và vận dụng những quy luật vận động của tự nhiên, xã hội phục vụ cuộc sống của mình.
Những nhận thức của con người về thế giới dựa vào nhận thức và là sản phẩm của nhận thức. Nhận thức của con người là quá trình từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính. Trong đó, nhận thức lý tính là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, giai đoạn này được gọi là tư duy trừu tượng. Tư duy được thực hiện bằng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa nhằm vạch ra bản chất, quy luật bên trong về sự vận động phát triển của sự vật, hiện tượng.
Theo từ điển Tiếng Việt, tư duy là “Giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý” [32, tr. Tư duy là sản phẩm cao nhất của não bộ là sự phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, suy luận. Kết quả của quá trình tư duy là khẳng định tính chính xác của thông tin, chỉ ra sự đúng, sai, 5 phù hợp hay không phù hợp của sự vật, hiện tượng với hiện thực khách quan. Tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng người mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, của hoạt động thực tiễn, trở thành sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá thể của một con người phù hợp với điều kiện sống nhất định.
Sự phát triển của tư duy chịu ảnh hưởng của toàn bộ tri thức mà nhân loại đã tích lũy trước đó. Đồng thời, tư duy chịu ảnh hưởng, tác động của các lý thuyết, quan điểm tồn tại cùng thời với nó. Mặt khác, tư duy có lôgic phát triển nội tại, là sự phản ánh đặc thù lôgic khách quan theo cách hiểu riêng, gắn với mỗi con người. Tính độc lập của tư duy vừa làm cho nó có được tính tích cực, năng động, sáng tạo trong quá trình tìm kiếm tri thức mới, vừa là điều kiện, tiền đề làm cho tư duy dần xa rời hiện thực khách quan.
Con người sử dụng thực tiễn để kiểm tra tính đúng đắn của tư duy. Như vậy, tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức của con người, biểu hiện sự hiểu biết, sự nhận thức, sự phản ánh đúng đắn bản chất, quy luật sự vận động và phát triển của hiện thực khách quan. Tư duy là kết quả của quá trình nhận thức, đồng thời là sự phát triển cao của nhận thức. Với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động tư duy tiến hành các thao tác: so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, quy nạp những thông tin đơn lẻ, gắn chúng vào mối liên hệ phổ biến, lọc bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, không căn bản để tìm ra nội dung và bản chất của sự vật, hiện tượng, khái quát nó thành những khái niệm, phạm trù, quy luật.
Tư duy là sự phản ánh gián tiếp thông qua các phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa, phân tích và tổng hợp. Đây là quá trình vận dụng các khái niệm, các quy luật để khám phá chân lý. Trong quá trình tư duy, bằng nhận thức lý tính con người khám phá, nắm bắt những vấn đề sâu kín của sự vật, hiện tượng chưa bộc lộ ra. Xét đến cùng, bản chất tư duy là sự phản ánh hiện thực khách quan từ những hình ảnh trực tiếp về sự vật, hiện tượng, tư duy lọc bỏ cái ngẫu nhiên, những mặt thứ yếu để phát hiện những nội dung chủ yếu, những mặt tất nhiên, những quan hệ tất yếu, từ đó hình thành những khái niệm phù hợp tương ứng.
* Quan niệm về tư duy khoa học Khoa học là hệ thống những tri thức về những quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy. Khoa học đồng nghĩa với hệ thống tri thức khoa học, là sản phẩm của hoạt động trí tuệ, được tích lũy, tìm tòi trong quá trình nghiên cứu, sáng tạo của nhân loại. 6 Là một hình thái ý thức xã hội phản ánh thế giới khách quan và khái quát hệ thống chân lý về thế giới đó, khoa học là một hình thức phản ánh thế giới khách quan, tồn tại xã hội vào trong ý thức con người và là một sản phẩm của hoạt động thực tiễn biểu hiện ở hệ thống tri thức phản ánh chân thực dưới dạng lôgic trừu tượng về thế giới đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Tư duy khoa học là một phần của tư duy nói chung, là sản phẩm của tư duy biện chứng duy vật, nó đối lập với tư duy biện chứng duy tâm và khác về chất so với tư duy siêu hình máy móc.
TDKH là giai đoạn phát triển cao của nhận thức, được thực hiện thông qua một hệ thống các thao tác tư duy trong đầu óc của con người, nhằm tạo ra các tri thức mới dưới dạng các khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết, với mục đích phản ánh ngày càng sâu sắc hơn, chính xác hơn, đầy đủ hơn về đối tượng cũng như việc vận dụng có hiệu quả nhất các tri thức đã có vào thực tiễn. TDKH phản ánh thế giới hiện thực khách quan dự trên cơ sở thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng. Đây là cơ sở bảo đảm tính khoa học, tính cách mạng của tư duy, đồng thời bảo đảm tư duy luôn phản ánh đúng hiện thực khách quan. Chúng tôi cho rằng, TDKH là trình độ cao của quá trình nhận thức, được thực hiện thông qua hệ thống các thao tác tư duy của các nhà khoa học hoặc những người đang sử dụng các tri thức khoa học nhằm nhận thức một cách chính xác, đầy đủ, sâu sắc bản chất, tính quy luật của các sự vật, xây dựng thành các tri thức khoa học mới dưới dạng những khái niệm, phán đoán, suy luận, giả thuyết, lý thuyết khoa học mới.
Tư duy khoa học không chỉ là khả năng con người tiếp thu tri thức, mà thông qua hệ thống các thao tác tư duy, con người biết phân tích, tổng hợp lý thuyết từ đó sáng tạo ra các tri thức mới của loài người. Sự sáng tạo ấy giúp con người đưa ra những lý luận khoa học mới để giải quyết các vấn đề của cuộc sống, từ đó giúp cho con người có cái nhìn chính xác hơn về các sự vật hiện tượng trong đời sống xã hội. TDKH còn là một công cụ để đưa ra những dự báo về sự vận động và phát triển của mọi mặt đời sống xã hội. Với khả năng nhào nặn tri thức, TDKH không ngừng đưa ra các phán đoán mới, suy luận giả thuyết, lý luận, lý thuyết khoa học nhằm đem lại cho con người cái nhìn chân thực hơn, sâu sắc hơn về sự vật hiện tượng.
Tư duy khoa học là loại hình tư duy đặc biệt của con người, không những có thể giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra một cách toàn diện cụ thể, sâu sắc, khoa học, mà còn đưa ra được những dự báo chính xác về sự vận động và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng. TDKH phản ánh chính xác sự vật, hiện tượng không chỉ trong trạng thái “tĩnh”, mà trong trạng thái “động” của sự vật, hiện tượng. TDKH xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến, trong sự vận động, biến đổi không ngừng. Quan niệm về tư duy khoa học trong học tập các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội tại Trường Sĩ quan Chính trị Theo Từ điển tiếng Việt: “Học tập là học và luyện tập để hiểu biết, để có kỹ năng” [32, tr.
Học tập là một hoạt động cơ bản của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác lĩnh hội tri thức, kỹ xảo, kỹ năng và các phương thức hành vi phù hợp với các tri thức, kỹ xảo, kỹ năng đó, được xem như một loại hình của hoạt động nhận thức và mang tính mục đích của con người. Trong các nhà trường quân đội, hoạt động học tập của người học viên giữ vai trò chủ đạo chi phối các hoạt động khác. Hoạt động học tập của học viên là những hành động tự giác, tích cực của người học nhằm chiếm lĩnh các tri thức khoa học, phát triển trí tuệ, rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp quân sự; hình thành, phát triển nhân cách người cán bộ quân đội dưới sự chỉ đạo của người dạy trong điều kiện sư phạm quân sự.