Luận văn thạc sĩ phát triển tư duy cho học sinh thông qua dạy học chương tứ giác lớp 8 trung học cơ sở

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cải thiện năng lực tư duy cho học sinh thông qua dạy học chương tứ giác lớp 8 trung học cơ sở, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Toán học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2010

112
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN TƯ DUY CHO HỌC SINH

1.1. Đại cương về tư duy

1.2. Quá trình tư duy

1.3. Các loại hình tư duy

1.4. Tóm tắt chương 1

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TOÁN TRONG CHƯƠNG “TỨ GIÁC” LỚP 8 TRUNG HỌC CƠ SỞ

2.1. Rèn luyện các thao tác tư duy cho học sinh qua các bài toán

2.2. Các bài toán nhằm phát triển các loại hình tư duy cho học sinh

2.3. Các bài toán tổng hợp phối hợp các hoạt động trí tuệ nhằm phát triển các loại hình tư duy

2.4. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, tổ chức và kế hoạch thực nghiệm sư phạm

3.2. Nội dung thực nghiệm

3.3. Các giáo án thực nghiệm

3.4. Bài kiểm tra đánh giá

3.5. Phân tích kết quả thực nghiệm

3.6. Tóm tắt chương 3

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển tư duy học sinh qua dạy học tứ giác lớp 8

Phát triển tư duy cho học sinh là một trong những mục tiêu quan trọng trong giáo dục hiện đại. Đặc biệt, việc dạy học chương "Tứ giác" lớp 8 không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức hình học mà còn rèn luyện các kỹ năng tư duy cần thiết. Chương trình học này cung cấp cơ hội cho học sinh phát triển tư duy logic, tư duy hình học và khả năng giải quyết vấn đề thông qua các bài toán thực tiễn.

1.1. Khái niệm tư duy và vai trò trong học tập

Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh các thuộc tính bản chất của sự vật. Trong học tập, tư duy giúp học sinh phân tích, tổng hợp và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Việc phát triển tư duy không chỉ giúp học sinh hiểu bài mà còn tạo nền tảng cho việc học các môn học khác.

1.2. Tại sao dạy học tứ giác lại quan trọng

Chương "Tứ giác" cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về hình học, từ đó giúp các em phát triển khả năng tư duy hình học. Việc hiểu rõ các loại tứ giác và tính chất của chúng sẽ giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó nâng cao khả năng tư duy và giải quyết vấn đề.

II. Những thách thức trong việc phát triển tư duy học sinh qua dạy học tứ giác

Mặc dù việc dạy học tứ giác mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong quá trình triển khai. Một trong những vấn đề chính là sự thiếu hụt phương pháp dạy học phù hợp, dẫn đến việc học sinh không thể phát huy tối đa khả năng tư duy của mình.

2.1. Thiếu phương pháp dạy học tích cực

Nhiều giáo viên vẫn sử dụng phương pháp truyền thụ một chiều, khiến học sinh trở nên thụ động. Điều này làm giảm khả năng tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề của học sinh.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn

Học sinh thường gặp khó khăn trong việc liên kết kiến thức hình học với thực tiễn. Việc thiếu các bài toán thực tiễn có thể làm giảm hứng thú học tập và khả năng tư duy của học sinh.

III. Phương pháp dạy học hiệu quả để phát triển tư duy học sinh lớp 8

Để phát triển tư duy cho học sinh qua dạy học tứ giác, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức mà còn khuyến khích các em tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động.

3.1. Sử dụng bài toán thực tiễn

Việc đưa ra các bài toán thực tiễn liên quan đến tứ giác sẽ giúp học sinh thấy được ứng dụng của kiến thức trong cuộc sống. Điều này không chỉ tăng cường hứng thú học tập mà còn phát triển tư duy logic và khả năng giải quyết vấn đề.

3.2. Khuyến khích hoạt động nhóm

Hoạt động nhóm giúp học sinh trao đổi ý tưởng và giải quyết vấn đề cùng nhau. Qua đó, các em sẽ học được cách lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác và phát triển tư duy phản biện.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về phát triển tư duy

Nghiên cứu cho thấy việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong chương "Tứ giác" đã mang lại kết quả tích cực. Học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy và giải quyết vấn đề.

4.1. Kết quả từ thực nghiệm sư phạm

Các kết quả từ thực nghiệm cho thấy học sinh tham gia vào các hoạt động học tập tích cực có sự tiến bộ rõ rệt trong khả năng tư duy và giải quyết vấn đề. Điều này chứng tỏ rằng phương pháp dạy học tích cực là rất hiệu quả.

4.2. Phản hồi từ học sinh và giáo viên

Phản hồi từ học sinh cho thấy các em cảm thấy hứng thú hơn với môn học và tự tin hơn trong việc giải quyết các bài toán. Giáo viên cũng nhận thấy sự tiến bộ rõ rệt trong tư duy của học sinh.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai trong dạy học tứ giác

Việc phát triển tư duy cho học sinh qua dạy học tứ giác là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các phương pháp dạy học mới để nâng cao chất lượng giáo dục.

5.1. Định hướng phát triển phương pháp dạy học

Cần xây dựng một hệ thống bài toán phong phú và đa dạng, giúp học sinh phát triển tư duy một cách toàn diện. Đồng thời, giáo viên cần được đào tạo để áp dụng các phương pháp dạy học tích cực.

5.2. Tương lai của giáo dục toán học

Trong tương lai, việc phát triển tư duy cho học sinh sẽ ngày càng được chú trọng hơn. Các phương pháp dạy học hiện đại sẽ giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, mục lục và các tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Mục tiêu phát triển tƣ duy cho học sinh Chƣơng 2: Xây dựng hệ thống bài toán trong chƣơng “ Tứ giác” lớp 8 trung học cơ sở có tác dụng phát triển tƣ duy cho học sinh. Chƣơng 3 : Thực nghiệm sƣ phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN TƢ DUY CHO HỌC SINH 1. Đại cƣơng về tƣ duy 1. Tư duy là gì Theo [11], có những định nghĩa khác nhau về tƣ duy.

Rubinstein: "Tư duy đó là sự khôi phục trong ý nghĩ của chủ thể về khách thể với mức độ đầy đủ hơn, toàn diện hơn so với các tư liệu cảm tính xuất hiện do tác động của khách thể ". Petrovski: "Tư duy là quá trình tâm lí liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ. Ngôn ngữ - quá trình tìm tòi và sáng tạo ra cái chính yếu, quá trình phản ánh, cách từng phần học khái quát, thực tế trong khi phân tích và tổng hợp nó. Tư duy sinh ra trên cơ sở thực tiễn, từ nhận thức cảm tính, và vượt xa giới hạn của nó ".

"Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong sự vật khách quan". “Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt -Bộ não người”.[19] Tƣ duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dƣới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận. Theo một định nghĩa khác, "tƣ duy" là danh từ triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của ngƣời ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho ngƣời ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó. Cơ chế hoạt động cơ sở của tƣ duy dựa trên hoạt động sinh lý của bộ não với tƣ cách là hoạt động thần kinh cao cấp.

Mặc dù không thể tách rời não nhƣng tƣ duy không hoàn toàn gắn liền với một bộ não nhất định. Trong quá trình sống, con ngƣời giao tiếp với nhau, do đó, tƣ duy của từng ngƣời vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác động biến đổi từ tƣ duy của đồng loại thông hoạt động có tính vật chất. Do đó, tƣ duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể ngƣời mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì đƣợc tính cá thể của một con ngƣời nhất định. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tƣ duy bắt nguồn từ hoạt động tâm lý.

Hoạt động này gắn liền với phản xạ sinh lý là hoạt động đặc trƣng của hệ thần kinh cao cấp. Hoạt động đó diễn ra ở các động vật cấp cao, đặc biệt biểu hiện rõ ở thú linh trƣởng và ở ngƣời. Nhƣng tƣ duy với tƣ cách là hoạt động tâm lý bậc cao nhất thì chỉ có ở con ngƣời và là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của con nguời. Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, lao động là một trong các yếu tố quyết định để chuyển hóa vƣợn có dạng ngƣời thành con ngƣời.

Từ chỗ là một loài động vật thích ứng với tự nhiên bằng bản năng tự nhiên, con ngƣời đã phát triển sự thích ứng đó bằng bản năng thứ hai là tƣ duy với năng lực trừu tƣợng hóa ngày càng sâu sắc đến mức nhận thức đuợc bản chất của hiện tƣợng, quy luật của tự nhiên và nhận thức đựơc chính bản thân mình. Quá trình tư duy Tƣ duy là hoạt động trí tuệ với một quá trình bao gồm 4 bƣớc cơ bản: - Xác định đƣợc vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ tƣ duy. Nói cách khác là tìm đƣợc câu hỏi cần giải đáp. - Huy động tri thức, vốn kinh nghiệm, liên tƣởng, hình thành giả thiết về cách giải quyết vấn đề, cách trả lời câu hỏi.

- Xác minh giả thiết trong thực tiễn. Nếu giải thiết không đúng thì qua bƣớc sau, nếu sai thì phủ định nó và hình thành giả thiết mới. - Quyết định đánh giá kết quả, đƣa ra sử dụng. Các loại hình tư duy Nhân loại đã đặt cho tƣ duy rất nhiều loại hình tƣ duy nhƣ tƣ duy lôgic, tƣ duy trừu tƣợng, tƣ duy sáng tạo, tƣ duy kinh nghiệm, tƣ duy lý luận, tƣ duy khoa học, tƣ duy triết học v.Về bản chất, tƣ duy chỉ có một, đó là sự việc hình thành mới hoặc tái tạo lại các liên kết giữa các phần tử ghi nhớ.

Sự phân chia ra các loại hình tƣ duy nhằm mục đích hiểu sâu và vận dụng tốt tƣ duy trong hoạt động của hệ thần kinh. Tƣ duy toán học 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các hình thức tư duy trong toán học 1. Khái niệm Khái niệm là một hình thức tƣ duy phản ánh một lớp đối tƣợng và do đó nó có thể đƣợc xem xét theo hai phƣơng diện: Ngoại diên và nội hàm.

Bản thân lớp đối tƣợng xác định khái niệm đƣợc gọi là ngoại diên, còn toàn bộ các thuộc tính chung của lớp đối tƣợng này đƣợc gọi là nội hàm của lớp đối tƣợng đó. Giữa nội hàm và ngoại diên có mối liên hệ mang tính quy luật: Nội hàm càng mở rộng thì ngoại diên càng bị thu hẹp và ngƣợc lại. Nếu ngoại diên của khái niệm A là một bộ phận của khái niệm B thì khái niệm A đƣợc gọi là một khái niệm chủng của B, còn khái niệm B đƣợc gọi là một khái niệm loại của A. Phán đoán Phán đoán là hình thức tƣ duy, trong đó khẳng định một dấu hiệu thuộc hay không thuộc một đối tƣợng.

Phán đoán có tính chất hoặc đúng hoặc sai và nhất thiết chỉ xảy ra một trong hai trƣờng hợp đó mà thôi. Trong tƣ duy, phán đoán đƣợc hình thành bởi hai phƣơng thức chủ yếu: trực tiếp và gián tiếp. Trong trƣờng hợp thứ nhất, phán đoán diễn đạt kết quả nghiên cứu của qua trình tri giác một đối tƣợng, còn trong trƣờng hợp thứ hai phán đoán đƣợc hình thành thông qua một hoạt động trí tuệ đặc biệt gọi là suy luận. Cũng nhƣ các khoa học khác, toán học thực chất là một hệ thống các phán đoán về những đối tƣợng của nó, với nhiệm vụ xác định tính đúng sai của các luận điểm.

Suy luận Suy luận là một quá trình tƣ duy có quy luật, quy tắc nhất định (gọi là các quy luật, quy tắc suy luận). Muốn suy luận đúng cần phải tuân theo những quy luật, quy tắc ấy. Có hai hình thức suy luận là suy diễn và quy nạp. Suy diễn đi từ cái tổng quát đến cái riêng, còn quy nạp đi từ cái riêng đến cái chung.

8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong dạy học toán, suy diễn và quy nạp không thể tách rời nhau. Quy nạp để đi đến các luận đề chung làm cơ sở cho quá trình suy diễn, ngƣợc lại suy diễn để kiểm chứng kết quả của quy nạp. Các thao tác tư duy toán học 1. Phân tích- tổng hợp Đứng trƣớc một bài toán học sinh phải đặt ra cho mình câu hỏi : Giả thiết bài toán cho điều gì? kết luận của bài toán yêu cầu gì? muốn giải quyết yêu cầu của bài toán ta phải làm gì ? vận dụng kiến thức nhƣ thế nào, muốn thế ta phải thực hiện thế nào? Đứng trƣớc một lời giải của bài toán học sinh phải biết tự đặt câu hỏi: Bài toán tại sao lại đƣợc giải nhƣ vậy? dựa trên cơ sở nào? giải bài toán tổng quát nhƣ thế nào? liệu có cách giải nào khác không? nếu thay đổi một số giả thiết thì bài toán thay đổi thế nào? các trƣờng hợp đặc biệt của bài toán ra sao? Rèn luyện năng lực phân tích và tổng hợp cho học sinh là yếu tố rất quan trọng trong dạy học, học sinh có năng lực này sẽ nhìn nhận các bài toán một cách hệ thống, biết phán đoán, biết cách suy luận để tìm lời giải không những cho bài toán cụ thể mà còn cả hệ thống bài toán, biết nêu bài toán tổng quát dẫn đến khả năng giải quyết vấn đề đƣợc phát huy cao độ nhất.

Phân tích là thao tác tƣ duy để phân chia đối tƣợng nhận thức thành các bộ phận, các mặt, các thành phần khác nhau. Trong giải toán, phân tích là phƣơng pháp suy luận đi từ cái chƣa biết đến cái đã biết. Xuất phát từ góc độ phân tích các hoạt động tƣ duy đi sâu vào bản chất thuộc tính của bộ phận từ đó đi tới những giả thiết và những kết luận khoa học. Trong học tập hoạt động này rất phổ biến.

Chẳng hạn, muốn giải một bài toán , phải phân tích tìm các mối lien hệ, các yếu tố, dữ kiện của bài toán từ đó mới có thể giải đƣợc bài toán. Phân tích đi lên (Suy ngƣợc lùi): để chứng minh mệnh đề A ta suy ngƣợc lại cần phải chứng minh A1, muốn chứng minh A1 ta phải chứng minh 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. cứ nhƣ vậy cho đến khi có Ak là mệnh đề đúng ta dừng lại. Khi trình bày lời giải lại theo trình tự ngƣợc lại từ Ak ta suy ra.

Ta có sơ đồ sau: Ak  Ak-1  …  A1. Phép phân tích đi lên thƣờng dùng để tìm lời giải. Đây là một trong cách thức để tìm ra lời giải của bài toán một cách thông dụng và phổ biến nhất, qua bƣớc phân tích này học sinh sẽ tìm ra cách giải quyết một vấn đề. Giáo viên rèn luyện cho học sinh năng lực này giúp cho học sinh dễ dàng tìm ra lời giải cho một bài toán, thƣờng là những bài toán mà chƣa biết thuật toán để giải nó.

Phép phân tích đi xuống (Suy ngƣợc tiến): Giả sử đã có A ta suy ra A1 tức là A  A1 ; từ A1  A2 … ; từ Ak-1  Ak khi nào gặp Ak sai thì dừng lại khi đó kết luận A là sai. Còn Ak đúng thì không kết luận đƣợc gì. Phép phân tích này thƣờng dùng trong chứng minh phản chứng, muốn phủ định một vấn đề ta thƣờng sử dụng phƣơng pháp này từ đó suy ra muốn chứng minh một mệnh đề ta thƣờng giả thiết mệnh đề phủ định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ