CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tư duy là gì? Cuộc sống, nhất là hoạt động thực tiễn của con người luôn đặt ra cho chúng ta những vấn đề, những bài toán, những khó khăn. Cuộc sống luôn đầy rẫy những thứ ta chưa biết, chưa dự đoán được và chúng ta phải suy nghĩ và đi tìm các giải pháp, lời giải. Những tri thức đã có chưa đủ, buộc chúng ta phải tìm ra những thuộc tính mới, mối quan hệ qua lại mới, thấu hiểu được các vấn đề bản chất, quy luật…của sự vật, hiện tượng. Khi hỏi bất cứ học sinh trung học phổ thông nào về sự khác biệt giữa con người và con vật, chúng ta sẽ nhận được câu trả lời “con người biết suy nghĩ, con vật thì không”.
Ở con vật có diễn ra quá trình cảm giác và ở một số động vật bậc cao có tri giác (chẳng hạn như chó có thể tri giác, nhận biết được chủ…) tức là quá trình nhận thức cảm tính. Quá trình nhận thức cảm tính cho phép con người và con vật thích nghi với thế giới. Tuy vậy, con người, với những đặc điểm của mình, không chỉ thích nghi mà luôn khám phá, thấu hiểu thế giới, chinh phục, cải tạo tự nhiên và xã hội cũng như bản thân mình; phải tìm ra bản chất của sự vật cũng như các quy luật tác động đến chúng, con người không thể chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức cảm tính được. Con người cần đạt tới bậc nhận thức cao hơn.
Quá trình đó được gọi là tư duy. Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật hiện tượng mà con người ta chưa biết [24]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tư duy thuộc nhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác. Cảm giác và tri giác mới chỉ phản ánh những đặc điểm bên ngoài, những mối liên hệ bên ngoài của sự vật hiện tượng.
Nhận thức cảm tính cung cấp những hiểu biết ban đầu về đối tượng nhận thức, nhưng những hiểu biết đó mới chỉ dừng lại ở những nét bên ngoài của đối tượng. Từ những tri thức trực quan, cảm tính bên ngoài đó, người ta chưa thể phân biệt hoặc xác định được cái bản chất và không bản chất , cái tất nhiên và ngẫu nhiên, tính phổ biến và cá biệt. Hơn nữa, nhận thức cảm tính luôn có giới hạn nhất định, vì sự hoạt động của các giác quan nhận biết không thể lan rộng ra ngoài ngưỡng của cảm giác. Trên thực tế, con người không thể nhìn thấy mọi không gian, màu sắc, được nghe mọi âm thanh, ngửi và nếm được tất cả mùi vị hay tiếp xúc được với những khối lượng cực lớn, cực nhỏ.
Trong khi đó, nhiệm vụ của nhận thức là phải nắm bắt bản chất của đối tượng trong tính tất yếu và tính quy luật của nó. Để làm được điều đó, con người phải tư duy, tức là phản ánh những thuộc tính bản chất, những quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng. Bản chất của tư duy Tư duy phản ánh những thuộc tính bản chất. Những thuộc tính bản chất là tổng hợp tất cả những đặc điểm, những thuộc tính, những mối liên hệ tất yếu và tương đối ổn định ở bên trong sự vật, hiện tượng, quy định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng đó, nếu mất thuộc tính đó đi thì sự vật không còn là nó nữa.
Tư duy tách dần nội dung khách quan của hiện tượng ra khỏi cái vỏ bên ngoài, ngẫu nhiên, để tìm ra những cái bị che lấp đằng sau hiện tượng, tức là nhận thức nội dung và quy luật của sự vật ấy. Một sự vật có vô số các thuộc tính bản chất, điều đó phụ thuộc vào góc độ xem xét của chúng ta. Nhờ việc phản ánh những thuộc tính bản chất bên 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong ấy cho nên tư duy giúp cho nhận thức của loài người sâu sắc hơn, đầy đủ hơn so với nhận thức cảm tính, và nó sửa chữa những sai lầm do nhận thức cảm tính đưa đến. Chẳng hạn trẻ nhỏ mới phát triển nhận thức cảm tính sẽ tri giác “gió” và phản ánh thuộc tính bên ngoài, hình thức của “gió” là luồng không khí mát, “thổi bay những thứ khác”.
Khi trẻ lớn hơn, tư duy phát triển, trẻ hiểu được gió là một hiện tượng trong tự nhiên hình thành do sự chuyển động của không khí. Không khí luôn chuyển động từ nơi khí áp cao đến nơi khí áp thấp. Sự chuyển động của không khí sinh ra gió. Con người ở thời đầu sơ khai cũng như đứa trẻ vậy, thấy được hiện tượng gió nhưng không thấu hiểu được bản chất của gió.
Con người cho rằng gió là quyền năng của thượng đế. Trải qua nhiều thế kỉ, con người phải cố gắng tìm hiểu bản chất của gió. Đến thế kỉ XVII nhà vật lý học người Ý Evangelista Torricelli là người đầu tiên đưa ra được lí giải, mô tả khoa học về hiện tượng gió [theo 24]. Tư duy phản ánh những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật.
Tư duy phản ánh những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật là phản ánh những mối liên hệ, quan hệ phổ biến bên trong quy định bản chất của các sự vật, hiện tượng. Do nhu cầu của cuộc sống, con người không chỉ nhận thức được các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà cần thiết hơn là phải cải tạo hiện thực khách quan ấy. Vì thế việc nhận thức được quan hệ và liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng là rất quan trọng. Hơn nữa, thực chất tất cả các quá trình tư duy là quá trình xác lập những mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện trong hoàn cảnh cụ thể của hiện thực khách quan.
Tư duy phản ánh cái mà ta chưa biết 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tư duy của con người chỉ phản ánh những sự vật, hiện tượng chưa có trong kinh nghiệm cá nhân hoặc mâu thuẫn với kinh nghiệm trước đây. Những gì đã biết, đã quen thuộc con người thường không tư duy. Phát hiện cái chưa biết từ cái đã biết, mâu thuẫn mới từ kinh nghiệm đã có góp phần làm cho tư duy luôn hoạt động. Thực chất của hoạt động tư duy là hoạt động sáng tạo.Đặc điểm của tư duy Tính vấn đề: Nghĩa là tư duy chỉ xuất hiện khi con người gặp những vấn đề cần giải quyết.
Vấn đề đó đòi hỏi con người vừa phải nhận diện sự vật, hiện tượng đồng thời phân tích các mối lien hệ, các quy luật bên trong làm cơ sở để đưa ra các quyết định. Tính gián tiếp: Tức là quá trình tư duy có thể nhận thức được sự vật hiện tượng mà không cần trực tiếp tri giác sự vật hiện tượng đó. Để làm được điều này, tư duy sử dụng phương tiện ngôn ngữ và các công cụ hỗ trợ trong quá trình nhận thức (thiết bị đo, máy móc…). Tính gián tiếp của tư duy cho phép con người vượt qua các giới hạn của không gian và thời gian để nhận thức thế giới.
Tính trừu tượng và khái quát hóa: tức là quá trình tư duy không tập trung vào các đặc điểm cụ thể, riêng biệt của một sự vật hiện tượng như quá trình tri giác mà nó chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất và khái quát thành những quy luật chung cho nhiều sự vật hiện tượng. Tính trừu tượng và khái quát hóa của tư duy cho phép con người không chỉ giải quyết vấn đề hiện tại mà còn sáng tạo ra những cái mới và có những dự đoán cho tương lai. Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ. Ngôn ngữ vừa là phương tiện để con người tư duy vừa là phương tiện để chuyển giao sản phẩm tư duy của con người từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com duy không thể diễn ra. Nhưng ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ cũng trở nên vô nghĩa. Tư duy quan hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính. Nhận thức cảm tính là sự kết nối giữa hiện thực với tư duy.
Nhận thức cảm tính cung cấp chất liệu cho tư duy. Ngược lại, tư duy và sản phẩm của tư duy chi phối khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính. Tư duy làm cho khả năng cảm giác của con người nhạy bén hơn, khả năng tri giác của con người mang tính định hướng và có ý nghĩa hơn. Mối liên hệ giữa tư duy, trí tuệ và trí thông minh Liên quan đến khái niệm tư duy, tâm lý học và giáo dục học cũng nghiên cứu và đề cập sâu đến các khái niệm trí tuệ và trí thông minh.
Xem xét mối liên hệ giữa các khái niệm tư duy, trí tuệ và trí thông minh sẽ giúp cho việc ứng dụng vào trong quá trình giáo dục và dạy học. Có rất nhiều cách tiếp cận từ đó dẫn tới nhiều quan niệm về trí tuệ nhưng quan niệm phổ biến và được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ nhất đó là cho rằng trí tuệ là năng lực thích nghi, thích ứng của cá nhân. Các đại diện tiêu biểu là: V.Stern xem “trí tuệ là năng lực chung của các cá nhân đặt tư duy một cách có ý thức vào những yêu cầu mới. đây là năng lực thích ứng tinh thần đối với nhiệm vụ và điều kiện của đời sống” [theo 20].
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể thấy, quan niệm trí tuệ là năng lực toàn diện của cá nhân để có thể thích ứng với cuộc sống đã và đang được nghiên cứu và ứng dụng trong thời đại đầy biến động và thách thức như ngày nay. Eysenck đã đề xuất mô hình trí tuệ ba tầng bậc [theo 24] để xem xét trí tuệ một cách toàn diện bao gồm: + Trí tuệ sinh học: bao gồm các đặc điểm về di truyền, sinh lý, sinh hóa của cá nhân là tiền đề cho năng lực thích ứng của con người. + Trí tuệ tâm trắc: bao gồm trí thông minh được đo bằng chỉ số IQ (Intelligence Quotient) và trí tuệ sáng tạo được đo bằng chỉ số CQ (Creativity Quotient) + Trí tuệ xã hội: là thể hiện của trí tuệ tâm trắc trong việc giải quyết nhiệm vụ cuộc sống của chủ thể có sự nhận thức rõ ràng về bản thân, xã hội và mối quan hệ giữa mình và xã hội.