Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tư duy là gì? Thực tiễn cuộc sống luôn đặt con người trước các vấn đề phải quyết định và lựa chọn. Để đưa ra được những quyết định và lựa chọn đó, con người phải nhận biết được thực tiễn, phân tích được các yếu tố bản chất và các mối liên hệ bên trong của mỗi sự vật hiện tượng để khái quát thành quy luật. Quá trình nhận diện, phân tích và đưa ra quyết định đó được gọi là tư duy.
Vậy, “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh các thuộc tính bản chất, các mối liên hệ quan hệ bên trong mang tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết” [5, tr. Tư duy thuộc giai đoạn nhận thức lý tính, nó không chỉ đơn thuần nhận thức sự vật hiện tượng một cách trực tiếp bằng cảm giác và tri giác mà đòi hỏi quá trình phân tích, nhìn nhận các thuộc tính bản chất và quy luật bên trong của sự vật hiện tượng. Đó là quá trình khái quát hóa sự vật hiện tượng và xuất phát từ các hoạt động thực tiễn của con người. Quá trình này sử dụng ngôn ngữ và biểu tượng được truyền đạt qua các thế hệ loài người.
Tư duy nhằm mục đích giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ mà cuộc sống đặt ra. Do đó, tư duy mỗi người được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức tích cực của chính họ đồng thời nó cũng chịu ảnh hưởng của sự phát triển xã hội trong từng giai đoạn lịch sử. Là hoạt động nhận thức cấp cao, tư duy có các đặc điểm cơ bản sau - Tính có vấn đề, tức là tư duy chỉ xuất hiện khi con người gặp những vấn đề phải giải quyết. Vấn đề đó đòi hỏi con người vừa phải nhận diện sự 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vật hiện tượng đồng thời phân tích các mối liên hệ, các quy luật bên trong làm cơ sở để đưa ra các quyết định.
- Tính gián tiếp, tức là quá trình tư duy có thể nhận thức được sự vật hiện tượng mà không cần trực tiếp tri giác sự vật hiện tượng đó. Để làm được điều này, tư duy sử dụng phương tiện ngôn ngữ và các công cụ hỗ trợ trong quá trình nhận thức (thiết bị đo, máy móc. Tính gián tiếp của tư duy cho phép con người vượt qua các giới hạn của không gian và thời gian để nhận thức thế giới. - Tính trừu tượng và khái quát hóa, tức là quá trình tư duy không tập trung vào các đặc điểm cụ thể, riêng biệt của một sự vật hiện tượng như quá trình tri giác mà nó chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất và khái quát thành các quy luật chung cho nhiều sự vật hiện tượng.
Tính trừu tượng và khái quát hóa của tư duy cho phép con người không chỉ giải quyết vấn đề hiện tại mà còn sáng tạo ra những cái mới và có những dự đoán cho tương lai. - Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ. Ngôn ngữ vừa là phương tiện để con người tư duy vừa là phương tiện để chuyển giao sản phẩm tư duy của con người từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy không thể diễn ra.
Nhưng ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ cũng trở nên vô nghĩa. - Tư duy quan hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính. Nhận thức cảm tính là sự kết nối giữa hiện thực với tư duy. Nhận thức cảm tính cung cấp chất liệu cho tư duy.
Ngược lại, tư duy và sản phẩm của tư duy chi phối khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính. Tư duy làm cho khả năng cảm giác của con người nhạy bén hơn, khả năng tri giác của con người mang tính định hướng và có ý nghĩa hơn. Mối liên hệ giữa tư duy, trí tuệ và trí thông minh Liên quan đến khái niệm tư duy, tâm lý học và giáo dục học cũng nghiên cứu và đề cập sâu đến các khái niệm trí tuệ và trí thông minh. Xem 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xét mối liên hệ giữa các khái niệm tư duy, trí tuệ và trí thông minh sẽ giúp cho việc ứng dụng vào trong quá trình giáo dục và dạy học.
Có rất nhiều cách tiếp cận từ đó dẫn tới nhiều quan niệm về trí tuệ nhưng quan niệm phổ biến và được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ nhất đó là cho rằng trí tuệ là năng lực thích nghi, thích ứng của cá nhân. Các đại diện tiêu biểu là: - V.Stern xem trí tuệ là năng lực chung của các nhân đặt tư duy một cách có ý thức vào những yêu cầu mới. Đây là năng lực thích ứng tinh thần đối với nhiệm vụ và điều kiện mới của đời sống. Rieuneur (1997) cho rằng trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết vấn đề và nhanh chóng thích nghi với tình huống mới.
Sillamy (1997) cho rằng trí tuệ là khả năng hiểu các mối liên hệ sẵn có giữa các yếu tố của tình huống và thich nghi để thực hiện cho lợi ích bản thân. Có thể thấy, quan niệm trí tuệ là năng lực toàn diện của cá nhân để có thể thích ứng với cuộc sống đã và đang được nghiên cứu và ứng dụng trong thời đại đầy biến động và thách thức như ngày nay. Eysenck đã đề xuất mô hình trí tuệ ba tầng bậc để xem xét trí tuệ một cách toàn diện bao gồm: + Trí tuệ sinh học: bao gồm các đặc điểm về di truyền, sinh lý, sinh hóa của cá nhân là tiền đề cho năng lực thích ứng của con người + Trí tuệ tâm trắc: bao gồm trí thông minh được đo bằng chỉ số IQ (Intelligence Quotient) và trí tuệ sáng tạo được đo bằng chỉ số CQ (Creativity Quotient). + Trí tuệ xã hội: là thể hiện của trí tuệ tâm trắc trong việc giải quyết nhiệm vụ cuộc sống của chủ thể có sự nhận thức rõ ràng về bản thân, xã hội 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và mối quan hệ giữa mình với xã hội.
Trí tuệ xã hội được đánh giá thông qua chỉ số EQ (Emotion Quotient) Mô hình trí tuệ ba tầng bậc này cho thấy các loại trí tuệ có mối liên quan chặt chẽ với nhau và luôn chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố tác động. Nổi rõ lên trong mô hình này là trí tuệ EQ, trí tuệ CQ và trí tuệ IQ – là các loại trí tuệ được chú trọng phát triển trong giáo dục và dạy học. Trí thông minh ở đây được xem là trí tuệ nhận thức, trí tuệ lý trí mà thực chất đó là khả năng nhận thức của con người. Do đó, nó được đặt một vị trí quan trọng trong giáo dục và dạy học.
Như vậy, các khái niệm tư duy, trí tuệ và trí thông minh là sự thu hẹp dần phạm vi để chỉ khả năng nhận thức hay khả năng học tập của con người. Tuy nhiên, các lý thuyết mới về học tập đã mở rộng khái niệm trí thông minh. Theo đó, trí thông minh không chỉ là năng lực tư duy logic về ngôn ngữ, con số như cách thể hiện của các bài trắc nghiệm IQ mà còn có nhiều dạng năng lực tư duy khác được sử dụng và phát triển trong quá trình học tập của con người. Phân loại các năng lực tư duy Có thể phân loại các năng lực tư duy theo nhiều tiêu chí khác nhau.
Đề tài này tiếp cận phân loại theo bản chất các thao tác bên trong của quá trình tư duy và theo xu thế biểu hiện bên ngoài. - Theo bản chất các thao tác tư duy Xét về bản chất, tư duy là một quá trình cá nhân thực hiện các thao tác trí tuệ để giải quyết vấn đề hay nhiệm vụ đặt ra [5, tr. Cá nhân có năng lực tư duy hay không chính là ở chỗ năng lực tiến hành các thao tác tư duy trong đầu họ như thế nào. Các năng lực đó là: + phân tích, tổng hợp: là khả năng phân tích đối tượng nhận thức thành các bộ phận, thuộc tính và các mối liên hệ và ngược lại, khả năng hợp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất các bộ phận, thuộc tính riêng lẻ thành một chỉnh thể để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn + so sánh: là khả năng xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức + trừu tượng hóa và khái quát hóa: là khả năng gạt bỏ những thuộc tính không cơ bản, những mối liên hệ thứ yếu không cần thiết về phương diện nào đó và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết và ngược lại, khả năng bao quát nhiều đối tượng thành một nhóm theo những thuộc tính, những mối liên hệ chung nhất.
- Theo xu thế biểu hiện bên ngoài Lý thuyết “đa thông minh” (Multiple Intelligence) của GS. Howard Gardner được nghiên cứu và phát triển tại ĐH Harvard, Mỹ đã chỉ ra rằng mỗi người bình thường đều có 7 trí thông minh hay 7 năng lực tư duy: + 1) Lý luận Toán Học (Logical-mathematical): là khả năng làm việc với các con số, đặt câu hỏi và giải đáp, nhận ra các kiểu mẫu xếp theo trình tự, phân tích và phân loại sự vật, đặt, khả năng lý luận trừu tượng. + 2) Ngôn ngữ - khẩu ngữ (Verbal-linguistic): là khả năng về đọc, viết, kể chuyện, khả năng nhạy cảm với các ý nghĩa của các từ ngữ, biết rõ chức năng khác nhau của ngôn ngữ. + 3) Không gian (Spatial): là khả năng vẽ, lập ra họa đồ, làm việc với các biểu mẫu, hình vẽ, khả năng định vị không gian.
+ 4) Âm Nhạc (Musical): khả năng nhận thức, ghi nhớ, lượng giá và sáng tạo nhịp điệu, âm thanh, tiết điệu, thưởng thức tiết tấu. + 5) Vận động thân thể (Bodily-kinesthetic): khả năng thể hiện, trình bày thông qua các động tác cơ thể, nhẩy múa, đóng kịch, khéo léo trong việc sử dụng các dụng cụ. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + 6) Tương giao cá nhân (Interpersonal): khả năng hiểu rõ về bản chất con người, khả năng tổ chức, truyền thông và giải quyết các bất đồng. + 7) Nội tâm cá nhân (Intrapersonal): khả năng hiểu rõ chính mình, nhận ra các ưu khuyết điểm của các hành vi cá nhân, khả năng hoạch định và đặt ra các mục tiêu cá nhân.