MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sản xuất nông lâm nghiệp nói chung và sản xuất trồng trọt nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với xã hội, là ngành sản xuất để cung cấp nhu cầu tối cần thiết về lƣơng thực, thực phẩm cho toàn xã hội; cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến; cung cấp hàng hoá xuất khẩu; cung cấp lao động và một phần vốn để công nghiệp hoá. Sau hơn 20 năm đổi mới, nền nông nghiệp nƣớc ta đã đạt đƣợc những thành tựu hết sức quan trọng, trong đó nổi bật nhất là đảm bảo đƣợc an ninh lƣơng thực, từng bƣớc trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu gạo và đang chiếm lĩnh thị trƣờng thế giới về cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè.; sản xuất nông nghiệp bƣớc đầu chuyển dịch sản xuất theo hƣớng hàng hóa tập trung, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Song kết quả đạt đƣợc còn nhiều hạn chế, sản xuất hàng hóa với quy mô, năng suất chất lƣợng, hiệu quả chƣa cao.
Đảng và nhà nƣớc đã có nhiều chủ trƣơng và giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch kinh tế nông nghiệp theo hƣớng kinh tế thị trƣờng hiện đại đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt khi chúng ta thực hiện hội nhập AFTA, tham gia APEC và gia nhập WTO, đây là thuận lợi những cũng là khó khăn, thách thức đối với sản xuất nông nghiệp của nƣớc ta. Nông nghiệp nƣớc ta có thế mạnh về đất đai, lao động, sản phẩm hàng hóa đa dạng nhƣng chúng ta có nhiều hạn chế: Khoa học công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật, chế biến, bảo quản, kinh nghiệm thƣơng trƣờng, trình độ tổ chức quản lý, chất lƣợng sản phẩm thiếu ổn định, tính cạnh tranh trên thị trƣờng không cao, để hội nhập với thị trƣờng khu vực và quốc tế, chúng ta phải đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hóa tập trung. Chiêm Hóa là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Tuyên Quang với 25 xã và 01 thị trấn, tổng diện tích tự nhiên của huyện 127.828,10 ha, trong đó: đất sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 xuất nông nghiệp 13.187,96 ha, chiếm 10,31% diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp 105.129,7 ha chiếm 82,21%, diện tích đất còn lại là các loại đất khác. Huyện Chiêm Hóa có nhiều tiềm năng về sản xuất nông lâm nghiệp nhƣng chƣa khai thác đƣợc tiềm năng thế mạnh của địa phƣơng, hiệu quả sản xuất trồng trọt còn thấp, đời sống nhân dân khu vực nông thôn còn nhiều khó khăn, một trong những nguyên nhân quan trọng là sản xuất trồng trọt chƣa thực sự đi vào sản xuất hàng hóa.
Chính vì vậy việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá sự phát triển sản xuất theo hƣớng hàng hóa tập trung là hết sức quan trong đối với phát triển kinh tế xã hội đối với từng vùng, từng địa phƣơng, để rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những khuyến nghị có ý nghĩa thực tiễn với mong muốn góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của huyện Chiêm Hóa nói riêng và tỉnh Tuyên Quang nói chung. Do vậy tôi quyết định chọn hƣớng nghiên cứu cho luận văn của mình là: “Thực trạng, giải pháp phát triển sản xuất ngành trồng trọt theo hướng hàng hóa ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Trên cơ sở phân tích điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội và tiềm năng, lợi thế so sánh đối với phát triển một số sản phẩm hàng hoá của địa phƣơng để đề xuất các giải pháp khoa học thúc đẩy phát triển một số sản phẩm ngành trồng trọt thành sản phẩm hàng hoá, nâng cao đời sống và thu nhập cho ngƣời dân góp phần xây dựng nông thôn mới bền vững trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, 2.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất ngành trồng trọt theo hƣớng hàng hóa huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. - Phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển sản xuất ngành trồng trọt theo hƣớng hàng hóa huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 - Đề xuất giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm phát triển sản xuất ngành trồng trọt theo hƣớng hàng hóa ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3.
Ý nghĩa khoa học - Cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn về chuyển dịch sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng của huyện theo hƣớng sản xuất hàng hoá có hiệu hiệu quả kinh tế cao, các lợi thế so sánh của huyện góp phần xây dựng nông thôn mới. Ý nghĩa thực tiễn - Đề xuất các giải pháp khả thi giúp địa phƣơng có cơ sở để triển khai các hoạt động từ công tác tổ chức đến ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong hình thành mạng lƣới liên kết nông dân và doanh nghiệp sản xuất một số sản phẩm hàng hoá của huyện góp phần thực hiện có hiệu quả về tiêu chí nâng cao thu nhập cho ngƣời dân của huyện Chiêm Hoá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về phát triển trồng trọt theo hƣớng sản xuất hàng hoá 1.
Một số khái niệm 1. Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học, kỹ thuật. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ.
Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thuỷ sản. Ngành nông nghiệp cung cấp lƣơng thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong phát triển kinh tế ở hầu hết các nƣớc, nhất là các nƣớc đang phát triển là những nƣớc còn nghèo, đại bộ phận dân số sống bằng nghề nông. Tuy nhiên ngay cả những nƣớc có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp không lớn, nhƣng khối lƣợng nông sản của các nƣớc này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ lƣơng thực, thực phẩm cho đời sống của nhân dân nƣớc đó. Lƣơng thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con ngƣời và phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc mà hiện nay, mặc dù trình độ khoa học – công nghệ ngày càng phát triển nhƣng vẫn chƣa ngành nào có thể thay thế đƣợc.
Xã hội càng phát triển đời sống con ngƣời ngày càng cao thì nhu cầu của con ngƣời về lƣơng thực, thực phẩm ngày càng tăng về số lƣợng, chất lƣợng và chủng loại, điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là tăng cung lƣơng thực cho nền kinh tế quốc dân bằng sản xuất hoặc nhập khẩu lƣơng thực, có thể lự chọn nhập khẩu để dành nguồn lực làm việc khác khó hơn; các nƣớc đông dân muốn nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ổn định thì phần lớn lƣơng thực tiêu dùng phải sản xuất trong nƣớc. Thực tiễn lịch sử của các nƣớc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã đảm bảo an ninh lƣơng thực, nếu không có sự đảm bảo an ninh lƣơng thực thì khó có sự ổn định về chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển thì khó thu hút đƣợc đầu tƣ phát triển bền vững, lâu dài. Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực thành thị, đặc biệt là ở các nƣớc đang phát triển. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cƣ sống bằng nông nghiệp và tập trung ở khu vực nông thôn.
Vì thế khu vực nông nghiệp nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho phát triển công nghiệp và đô thị. Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác nhờ đó mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lƣợng lao động từ nông nghiệp đƣợc giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hƣớng có tính quy luật của mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc.
Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quý cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trƣờng. Khu vực nông nghiệp còn là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế, trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, bởi vì nông nghiệp là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể đƣợc tạo ra từ thuế nông nghiệp, tiết kiệm của nông dân đầu tƣ vào các hoạt động phi nông nghiệp, ngoại tệ thu đƣợc do xuất khẩu nông sản… Những điển hình thành công về sự phát triển ở nhiều nƣớc đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu tƣ cho công nghiệp.
Ngoài ra cần phải khai thác các nguồn khác một cách hợp lý, không nên cƣờng điệu quá vai trò của vốn tích luỹ trong nông nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Nông nghiệp và nông thôn còn là thị trƣờng tiêu thụ lớn của công nghiệp và dịch vụ. Ở hầu hết các nƣớc đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm tƣ liệu tiêu dùng và tƣ liệu sản xuất đƣợc tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trƣờng trong nƣớc mà trƣớc hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lƣợng ở khu vực phi nông nghiệp.
Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cƣ nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng, thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ phát triển.