CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRI THỨC KHOA HỌC- CÔNG NGHỆ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. LÝ LUẬN VỀ TRI THỨC KHOA HỌC 1. Khái niệm, cấu trúc tri thức khoa học Thứ nhất, khái niệm tri thức khoa học. Tri thức là kết quả của các quá trình nhận thức của con người về đối tượng được nhận thức, làm tái hiện trong tư tưởng con người những thuộc tính, những mối quan hệ, những quy luật vận động, phát triển của đối tượng và được diễn đạt bằng ngôn ngữ hay hệ thống ký hiệu khác.
Tri thức là lĩnh vực rất rộng, có thể xem xét ở nhiều cấp độ, khía cạnh khác nhau. Tri thức có thể là tri thức đời thường (còn gọi là tri thức tiền khoa học, tri thức kinh nghiệm đời thường hoặc có sách viết là tri thức thường nghiệm), tri thức nghệ thuật và tri thức khoa học (kinh nghiệm và lý luận). Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người và về tư duy của con người. Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại, bản chất của các sự vật hiện tượng, quá trình, từ đó chỉ ra những quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Đến nay, có khá nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tri thức khoa học. Trong số đó, định nghĩa của các tác giả cuốn Bách khoa toàn thư triết học có thể chấp nhận được vì những nội dung khá hợp lý của nó. Đó là quan niệm coi: tri thức khoa học chính là kết quả của quá trình nhận thức hiện thực, đã được kiểm nghiệm bởi hoạt động thực tiễn có tính lịch sử xã hội, phù hợp với lô gích, phản ánh hiện thực một cách tương ứng trong đầu óc con người dưới dạng các quan niệm, khái niệm, phán đoán, lý luận. Luan van 9 Từ định nghĩa trên có thể rút ra một số vấn đề sau: Một là, tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức phù hợp với lô gích và được kiểm nghiệm bởi hoạt động thực tiễn.
Tri thức khoa học chính là yếu tố cơ bản nhất, cốt lõi nhất để tạo ra bức tranh chung về thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy trong ý thức loài người, giúp họ chinh phục thế giới theo mục đích của mình một cách có hiệu quả nhất. Hai là, tri thức khoa học là sự khái quát, trừu tượng hoá những sự kiện đã được kiểm chứng, nhằm tìm ra cái tất yếu, cái qui luật và những mối liên hệ bản chất ẩn dấu đằng sau cái ngẫu nhiên, cái hiện tượng bề mặt; cái chung đằng sau cái cá biệt và cái riêng. Ba là, tri thức khoa học là sự hiểu biết được tích luỹ một cách có hệ thống, nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học một cách tự giác, tích cực; là loại hoạt động được vạch sẵn theo một mục đích được định trước và được tiến hành bằng các phương pháp khoa học và được biểu hiện thành các khái niệm, phạm trù, giả thuyết. Bốn là, tri thức khoa học được hình thành trong quá trình nhận thức của con người từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết… Tri thức khoa học còn có thể được hình thành nhờ trực giác hoặc tuân theo những quy luật của logic học.
Loại tri thức này xét cho đến cùng cũng là sự phản ánh thế giới hiện thực và được thực tiễn kiểm nghiệm. Năm là, tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài, liên tục của tư duy nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sự ra đời của tri thức khoa học luôn mang tính kế thừa những thành tựu đã được trong quá khứ. Ngày nay, tri thức khoa học đang trở thành tài sản chung của xã hội loài người.
Luan van 10 Như vậy, tri thức khoa học là những hiểu biết có hệ thống về các đặc điểm, quy luật khách quan của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy). Thứ hai, về mặt cấu trúc, có thể xét tri thức khoa học theo chiều dọc và chiều ngang. Theo lát cắt chiều dọc (chiều sâu), tri thức khoa học bao gồm tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận. Nói cách khác tri thức khoa học được cấu tạo từ hai cấp độ là tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận.
Trong đó tri thức kinh nghiệm là trình độ thấp, còn tri thức lý luận là trình độ cao của tri thức khoa học. Giữa hai trình độ này của tri thức khoa học có mối quan hệ mật thiết với nhau, làm tiền đề, cơ sở cho nhau cùng phát triển, phản ánh ngày càng gần đúng hơn, đầy đủ hơn và sâu sắc hơn về thế giới vật chất đang vận động không ngừng. Tri thức kinh nghiệm chỉ là một hình thức, một trình độ của nhận thức, phản ánh cái hiện tượng, cái đơn nhất, cái cụ thể, cái trực tiếp, bề ngoài của sự vật nên chưa thể nắm bắt được một cách đầy đủ, toàn diện cái tất yếu, cái bản chất sâu sắc, cũng như các mối liên hệ bên trong của sự vật, hiện tượng. Để nắm bắt được bản chất sự vật thì nhận thức của con người tất yếu phải chuyển lên trình độ tri thức lý luận.
Tri thức lý luận ở vào trình độ cao nhất của tri thức khoa học, là sản phẩm của tư duy bậc cao. Đây là một trình độ cao hơn về chất so với tri thức kinh nghiệm. Tri thức lý luận được khái quát từ tri thức kinh nghiệm. Nó tồn tại trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, qui luật, giả thuyết, lý thuyết, học thuyết nào đó.
Nhờ những ưu điểm trên mà tri thức lý luận có vai trò rất quan trọng đối với thực tiễn, tác động và góp phần biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động năng động có ý thức của con người. Tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm là hai trình độ phản ánh khác nhau nhưng chúng có sự liên hệ hữu cơ, mật thiết với nhau và có sự bổ sung Luan van 11 cho nhau để nắm bắt được chuẩn xác hơn bản chất của sự vật. Theo lát cắt chiều ngang, tùy góc độ xem xét mà người ta có thể chia tri thức khoa học thành các loại hình tri thức khoa học khác nhau. Xét theo đối tượng, tri thức khoa học bao gồm: Tri thức khoa học tự nhiên; tri thức khoa học xã hội và nhân văn; tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Các tri thức khoa học tự nhiên (khoa học tự nhiên) nghiên cứu các qui luật của tự nhiên, các phương thức chinh phục và cải tạo tự nhiên. Chúng phản ánh bản chất sự vật, hiện tượng và các quá trình tự nhiên. Các tri thức khoa học xã hội và nhân văn (khoa học xã hội và nhân văn), nghiên cứu các hiện tượng xã hội khác nhau, các qui luật vận động, phát triển của chúng và xét con người như một thực thể xã hội. Đây là những tri thức khoa học phản ánh bản chất của những sự vật, hiện tượng, quá trình và quan hệ xã hội lấy con người làm trung tâm.
Các tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ là những tri thức phản ánh bản chất, phương pháp, cách thức, và các biện pháp tác động của con người vào các đối tượng trong lĩnh vực lao động sản xuất. Xét theo chức năng, vai trò và phạm vi ứng dụng, tri thức khoa học được chia thành: Tri thức khoa học cơ bản; tri thức khoa học ứng dụng. Khoa học cơ bản với nhiệm vụ vạch ra những qui luật, phương hướng, phương pháp chung cho các khoa học ứng dụng. Với nghĩa này, khoa học cơ bản không chỉ đóng khung trong phạm vi các khoa học tự nhiên mà còn bao hàm sang cả các khoa học xã hội và nhân văn, lẫn khoa học kỹ thuật.
Do đó, tri thức khoa học cơ bản là hệ thống tri thức lý thuyết phản ánh các thuộc tính, quan hệ, qui luật khách quan của lĩnh vực hiện thực được nghiên cứu một cách khách quan vốn có của nó. Khoa học ứng dụng vạch ra những nguyên tắc, quy tắc, phương pháp cụ Luan van 12 thể để ứng dụng trực tiếp vào hoạt động cải biến tự nhiên, xã hội theo mục đích con người. Do vậy, tri thức khoa học ứng dụng là hệ thống tri thức vạch ra những con đường, những biện pháp, thủ thuật, hình thức ứng dụng tri thức khách quan (lý thuyết ) vào thực tiễn nhằm phục vụ cho lợi ích của con người. Nếu các khoa học cơ bản hướng tới việc loại bỏ hoàn toàn nhân tố chủ quan để nhận thức chính xác các qui luật khách quan của thế giới bên ngoài, những điều kiện tác động của chúng, thì các khoa học ứng dụng, ngược lại, chú ý tới nhân tố chủ quan, đến mục đích và các phương tiện để đạt được mục đích, với việc thực hiện nó trong thực tiễn.
Ranh giới phân chia, giữa khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, cố nhiên cũng là tương đối, vì bất cứ khoa học cơ bản nào cũng có nội dung thực tiễn và khoa học ứng dụng nào cũng có ý nghĩa lý thuyết khách quan. Vậy, tri thức khoa học là trình độ cao nhất của nhận thức con người. Các cách phân chia trên đều có tính chất tương đối vì ranh giới giữa các tri thức khoa học là hết sức mềm dẻo, năng động. Vai trò của tri thức khoa học - công nghệ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tri thức khoa học và công nghệ là tầng cao của sự nhận thức và vận dụng những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy vào trong hoạt động thực tiễn của xã hội, trước hết là trong lao động sản xuất.
Tri thức khoa học quan hệ rất chặt chẽ với tri thức công nghệ và sản xuất xã hội, đặc biệt là khi khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Mối quan hệ đó biểu hiện ở chỗ: Nếu như nhiệm vụ của khoa học là tìm ra các quy luật hoạt động của giới tự nhiên, thì mục đích của công nghệ là ứng dụng các nguyên lý, các quy luật khoa học vào sản xuất và đời sống xã hội, nhằm không ngừng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Nếu khoa học tập trung trả lời câu hỏi tại sao (văn hóa biết), thì công nghệ lại chú trọng vào việc làm như thế nào, bằng Luan van 13 công cụ, phương tiện nào (văn hóa làm). Tri thức khoa học khi được vật thể hóa sẽ trở thành những phương tiện kỹ thuật, những quy trình công nghệ.