Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ kinh tế

2024

217
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến thay đổi công nghệ

1.2. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến chuyển dịch cơ cấu lao động

1.3. Tổng quan nghiên cứu về thay đổi công nghệ tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành và trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo

1.4. Khoảng trống nghiên cứu

1.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

3. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO NGÀNH

2.1. Cơ sở lý luận về thay đổi công nghệ

2.2. Khái niệm, phân loại và các thành phần của công nghệ

2.3. Khái niệm thay đổi công nghệ

2.4. Đo lường thay đổi công nghệ

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi công nghệ

2.6. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.7. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.8. Nội dung chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.9. Tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.10. Cơ chế tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.11. Mô hình phân tích tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.12. Đánh giá tác động của thay đổi đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.13. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

4. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu của luận án

3.2. Dữ liệu nghiên cứu

3.2.1. Dữ liệu thứ cấp

3.2.2. Dữ liệu sơ cấp

3.3. Phương pháp nghiên cứu định tính

3.4. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

3.5. Phương pháp phỏng vấn sâu

3.6. Phương pháp nghiên cứu định lượng

3.6.1. Phương pháp thống kê mô tả

3.6.2. Phương pháp phân tích hồi quy

3.7. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

5. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO Ở VIỆT NAM

4.1. Thực trạng thay đổi công nghệ trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.1.1. Giới thiệu ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.1.2. Đo lường thay đổi công nghệ trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi công nghệ trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.2.1. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động về quy mô

4.2.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động về chất lượng

4.3. Tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.3.1. Kết quả ước lượng tác động của thay đổi công nghệ đến cầu lao động ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.3.2. Phân tích tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.3.3. Đánh giá chung về tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

6. CHƯƠNG 5: BỐI CẢNH, ĐỊNH HƯỚNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ GÓP PHẦN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO Ở VIỆT NAM

5.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra yêu cầu thay đổi công nghệ trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

5.1.1. Bối cảnh quốc tế

5.1.2. Bối cảnh trong nước

5.2. Định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam và dự báo tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành đến năm 2030

5.2.1. Định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam đến năm 2030

5.2.2. Dự báo tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam đến năm 2030

5.3. Giải pháp thúc đẩy thay đổi công nghệ góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

5.3.1. Hoàn thiện chính sách thúc đẩy thay đổi công nghệ góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam

5.3.2. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo

5.3.3. Nâng cao năng lực công nghệ của ngành công nghiệp chế biến chế tạo

5.3.4. Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng của người lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo

5.3.5. Đáp ứng nhu cầu thị trường về sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam trên nền tảng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

5.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 5

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tác động của công nghệ đến chuyển dịch lao động

Công nghệ đã trở thành yếu tố quyết định trong việc chuyển dịch lao động trong ngành chế biến chế tạo tại Việt Nam. Sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghiệp 4.0 đã tạo ra những thay đổi lớn trong quy trình sản xuất và quản lý. Theo nghiên cứu, tác động của công nghệ không chỉ làm tăng năng suất lao động mà còn dẫn đến sự thay đổi về cơ cấu lao động. Nhiều công việc truyền thống đã bị thay thế bởi máy móc và tự động hóa, dẫn đến tình trạng dư thừa lao động trong một số lĩnh vực. Tuy nhiên, tự động hóa cũng tạo ra cơ hội việc làm mới cho những người lao động có kỹ năng cao hơn. Do đó, việc hiểu rõ về chuyển dịch lao động là rất cần thiết để các nhà quản lý và hoạch định chính sách có thể đưa ra các giải pháp phù hợp.

1.1. Xu hướng chuyển dịch lao động

Xu hướng chuyển dịch lao động trong ngành chế biến chế tạo đang diễn ra mạnh mẽ. Sự thay đổi công nghệ đã làm gia tăng nhu cầu về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ lao động trong ngành chế biến chế tạo có trình độ chuyên môn kỹ thuật đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Điều này cho thấy rằng công nghệ không chỉ ảnh hưởng đến số lượng lao động mà còn đến chất lượng lao động. Các doanh nghiệp cần phải đầu tư vào đào tạo nghề để nâng cao kỹ năng cho người lao động, từ đó đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động đang thay đổi nhanh chóng.

II. Tác động kinh tế của công nghệ

Sự thay đổi công nghệ trong ngành chế biến chế tạo không chỉ ảnh hưởng đến lao động mà còn có tác động lớn đến nền kinh tế. Tác động kinh tế của công nghệ thể hiện qua việc tăng trưởng năng suất lao động và giảm chi phí sản xuất. Nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới có khả năng cạnh tranh cao hơn và có thể mở rộng quy mô sản xuất. Điều này không chỉ giúp tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng sự chuyển dịch này có thể dẫn đến sự mất cân bằng trong thị trường lao động, khi mà những lao động không có kỹ năng phù hợp sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm.

2.1. Hiệu suất lao động

Một trong những yếu tố quan trọng nhất trong chuyển dịch lao động là hiệu suất lao động. Sự áp dụng công nghệ mới đã giúp tăng hiệu suất lao động một cách đáng kể. Theo các nghiên cứu, các doanh nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại có thể đạt được năng suất cao hơn từ 20% đến 30% so với các doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn tạo ra lợi nhuận cao hơn. Tuy nhiên, để đạt được hiệu suất cao, doanh nghiệp cần phải đầu tư vào đào tạo kỹ năng cho người lao động, nhằm đảm bảo rằng họ có thể sử dụng công nghệ một cách hiệu quả.

III. Đề xuất giải pháp thúc đẩy thay đổi công nghệ

Để thúc đẩy thay đổi công nghệ trong ngành chế biến chế tạo, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía nhà nước và doanh nghiệp. Một trong những giải pháp quan trọng là hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đầu tư vào công nghệ mới. Nhà nước cần tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận công nghệ hiện đại thông qua các chương trình hỗ trợ tài chính và đào tạo. Đồng thời, cần nâng cao năng lực công nghệ của ngành chế biến chế tạo thông qua việc khuyến khích nghiên cứu và phát triển. Việc này không chỉ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động.

3.1. Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật

Để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh công nghiệp 4.0, việc nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người lao động là rất cần thiết. Các doanh nghiệp cần chủ động tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cho nhân viên. Ngoài ra, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để đảm bảo rằng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường. Việc này không chỉ giúp người lao động có cơ hội việc làm tốt hơn mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành chế biến chế tạo.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến thay đổi công nghệ a. Nghiên cứu về cách tiếp cận và loại hình thay đổi công nghệ Nathan Rosenberg (1963) cho rằng TĐCN là một khái niệm có hai nghĩa: Nghĩa rộng, TĐCN là phổ biến phát minh hoặc công nghệ mới trong xã hội. TĐCN quan tâm đến tác động của công nghệ đối với cuộc sống của con người (thất nghiệp, văn hóa).

Nghĩa hẹp, TĐCN được phân biệt hoặc tách biệt khỏi những vấn đề văn hóa, xã hội và được hiểu là thay đổi phương pháp hoặc kỹ thuật sản xuất công nghiệp. TĐCN liên quan đến các công ty và kỹ thuật sản xuất như là công cụ để duy trì hoặc tăng năng suất. Nghiên cứu của Doms và cộng sự (1997), tiếp cận TĐCN theo nghĩa hẹp mà Nathan Rosenberg đã đề cập, dưới góc độ sử dụng các công nghệ tiên tiến (kỹ thuật sản xuất mới) sẽ dẫn đến việc tăng nhu cầu về LĐ có trình độ cao hơn. Tương tự, Đặng Đình Thắng (2015) cho rằng các nhà đầu tư và DN sẽ có xu hướng tìm kiếm và ứng dụng các công nghệ mới nhằm làm giảm nhu cầu sử dụng các đầu vào được định giá cao hơn trên thị trường.

Fisher cho rằng việc tăng cường sử dụng máy móc và phương pháp trồng trọt mới đã tạo điều kiện cho người nông dân có thể phát triển sản xuất, giúp giải phóng được một lực lượng lao động (LLLĐ) nông nghiệp ra khỏi khu vực nông thôn để chuyển sang làm việc ở môi trường hiện đại hơn (tham khảo qua Gillis, M. Nghiên cứu của Acemoglu (2002), chỉ ra các công nghệ mới đầu thế kỉ XIX thay thế kỹ năng bởi vì biên giới công nghệ khi đó chỉ cho phép phát minh ra các kỹ thuật thay thế kỹ năng. Nghiên cứu của Benoît Godin (2015) hệ thống ba cách tiếp cận về TĐCN đó là: (i) TĐCN là quá trình phát minh, đổi mới và khuyếch tán công nghệ; (ii) TĐCN là kỹ thuật sản xuất mới (quy trình công nghiệp),“được sử dụng để nghiên cứu vai trò của công nghệ như một nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (năng suất);”(iii) TĐCN cho phép sản xuất cùng một lượng đầu ra nhưng với số lượng đầu vào (vốn, LĐ, tài nguyên, .) ít hơn, hoặc TĐCN là khả năng để có thể sản xuất được nhiều đầu ra hơn“(sản lượng cao hơn) với cùng một lượng đầu vào.”Elena Meschi, Erol Taymaz, Marco Vivarelli (2015) và Haile, G. (2013) cùng quan điểm với cách tiếp cận (iii) của Benoît Godin (2015) cho rằng TĐCN cho phép“tạo ra cùng một lượng đầu ra với ít đầu vào hơn.”Tương tự, Sandeep Kumar Kujur (2018), TĐCN tạo thành một loại kiến thức giúp con người có thể tạo ra khối 8 lượng đầu ra lớn hơn hoặc sản lượng vượt trội về chất lượng từ một lượng tài nguyên nhất định.

Theo Abbot Philip (2011), TĐCN bao gồm 2 loại: TĐCN trung lập Hicks và TĐCN tăng cường yếu tố. Weldon (1963) và Ngô Thắng Lợi (2013) cho rằng TĐCN được phân thành các loại: TĐCN trung tính, TĐCN tiết kiệm vốn, TĐCN tiết kiệm LĐ, TĐCN tăng cường vốn, TĐCN tăng cường LĐ. Trần Thọ Đạt, Lê Quang Cảnh (2015), TĐCN gồm 3 loại: Dạng trung tính kiểu Harrod (Harrod, 1932); Dạng trung tính kiểu Solow (Solow, 1969); Dạng trung tính kiểu Hick (Hick, 1942). Các nghiên cứu tiếp cận TĐCN trong thiết bị: Morrison và Rosenblum (1992) chỉ ra mối tương quan thuận giữa công nghệ cao của thiết bị và nhu cầu về LĐ phi sản xuất.

Tương tự, Berman, Bound và Griliches (1994) chỉ ra mối liên hệ tích cực giữa đầu tư vào máy tính, R&D với tỷ trọng công nhân phi sản xuất của ngành; Siegel (1997) dẫn chứng mối liên hệ tích cực giữa chất lượng LĐ và máy tính. Greenwood và Yorukoglu (1997) chỉ ra việc tăng tốc đầu tư công nghệ sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng năng suất và tăng bất bình đẳng tiền lương. Andera Conte và Marco Vivarelli (2011) tiếp cận TĐCN là sự thay đổi nhập khẩu công nghệ là một trong những yếu tố quyết định nhu cầu LĐ có kỹ năng ở các nước đang phát triển. Deming (2017) chỉ ra rằng LĐ sở hữu kỹ năng mềm, có khả năng chống lại mối đe dọa bị công nghệ và máy móc mới thay thế công việc trong TTLĐ của Mỹ.

Tiếp cận TĐCN ngoài thiết bị có các nghiên cứu điển hình như: Plutarchos Sakellaris and Daniel J. Wilson (2002) phân tích sự dịch chuyển hàm sản xuất do TĐCN ngoài thiết bị. Boyle và McCormack (2002) và Dixon và Lim (2020) chỉ ra rằng sự suy giảm tỷ trọng LĐ có thể một phần là do TĐCN tiết kiệm LĐ. Các nghiên cứu đã phân tích tác động của đổi mới (Bogliacino và Pianta, 2010; Cozzarin, 2016; Evangelista và Vezzani, 2012; Falk, 2015; Kwon và cộng sự, 2015; Pellegrino và cộng sự, 2019; Van Reenen, 1997), đều là những phân tích ở cấp độ DN ngoại trừ nghiên cứu ở cấp độ ngành của Bogliacino và Pianta (2010), và khám phá liệu có bất kỳ tác động nào của TĐCN thông qua đổi mới quy trình/sản phẩm đối với nhu cầu LĐ hay không.

Nguyễn Thị Lê Hoa (2021), chỉ ra TĐCN gồm 2 loại: TĐCN trong thiết bị và TĐCN ngoài thiết bị và tập trung nghiên cứu về TĐCN ngoài thiết bị. Nghiên cứu về chỉ tiêu và phương pháp đo lường thay đổi công nghệ Các nghiên cứu chỉ ra để đo lường TĐCN có thể sử dụng hai chỉ tiêu: Đầu tư mới (mua máy móc, thiết bị, công nghệ mới, đầu tư cho R&D) và Năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP), mỗi chỉ tiêu có phương pháp đo lường là khác nhau. (i) Đối với chỉ tiêu đầu tư mới Greenwood và Yorukoglu (1997) đề xuất rằng nếu LĐ có kỹ năng có lợi thế so sánh trong phát triển công nghệ, thì việc tăng tốc vào đầu tư công nghệ sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng năng suất và tăng bất bình đẳng tiền lương. Stephen Machin and John Van Reenen (1998),“phân tích ảnh hưởng của công nghệ đến sự thay đổi cơ cấu kỹ năng”ở 7 quốc gia OECD, với thước đo công nghệ là cường độ R&D.

Morrison Paul and Donald S. Siegel (2001), xem xét tác động của thương mại, công nghệ và gia công phần mềm đối với việc làm và CCLĐ, biến đại diện cho TĐCN là R&D. Andrea Conte và Marco Vivarelli (2011) nhận thấy rằng sự TĐCN do thay đổi nhập khẩu công nghệ là“một trong những yếu tố quyết định”nhu cầu tương đối của LĐ có kỹ năng ở“các nước đang phát triển.”Elena Meschi, Erol Taymaz, Marco Vivarelli (2015) ước lượng tác động của TĐCN đến việc làm và tiền lương với biến đại diện cho công nghệ trong nước và nhập khẩu là:“Đầu tư vào máy móc thiết bị sản xuất trong nước và đầu tư để nhập khẩu máy móc và thiết bị. Mariacristina Piva, Marco Vivarelli (2017), sử dụng mô hình với biến phụ thuộc là việc làm, biến đo lường TĐCN là chi tiêu cho R&D.

Lê Phương Thảo (2021), đánh giá tác động của yếu tố công nghệ đến chuyển dịch CCLĐ ngành CNCBCT ở Việt Nam với các biến độc lập biểu thị yếu tố công nghệ bao gồm biến mua công nghệ; biến tổng sáng chế đo lường số lượng bằng sáng chế của DN. Để đo lường chỉ tiêu đầu tư mới, căn cứ vào lượng vốn mà các DN hay các ngành dùng để mua máy móc, thiết bị công nghệ mới hoặc đầu tư cho hoạt động R&D trong các năm, giai đoạn cụ thể. Chỉ tiêu này có ưu điểm là“lượng hóa được bằng tiền và có thể so sánh dễ dàng giữa các DN hay các ngành qua các năm hoặc các giai đoạn.” (ii) Đối với chỉ tiêu TFP Nghiên cứu của Nguyễn Quỳnh Anh (2011), từ phương trình sản xuất Cobb – Douglas“xây dựng mô hình để đánh giá tác động của tiền lương và các nhân tố cung tới NSLĐ của ngành công nghiệp chế biến Việt Nam trong giai đoạn 2005- 2008 trong đó trình độ công nghệ đo bằng TFP.”Kazunori Minetaki, Kiyohiko G. 10 Nishimura, Masato Shirai (2001), chỉ ra ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến nhu cầu LĐ và tiến bộ công nghệ trong sản xuất của Nhật Bản và tập trung vào tác động đến các ngành công nghiệp.

Sử dụng chỉ tiêu TFP và phương pháp đo lường dựa trên hàm chi phí để đo lường tỷ lệ thay đổi của tiến bộ công nghệ. Gladys López – Acevedo (2002), điều tra tác động của công nghệ đối với việc làm và tiền lương của các công nhân sản xuất có tay nghề cao ở Mexico bằng cách sử dụng dữ liệu mảng của các công ty từ năm 1992-1999. Sử dụng mô hình hiệu ứng cố định ước lượng ảnh hưởng của công nghệ đối với tiền lương với biến TFP được coi là thước đo của sự TĐCN được ước tính dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas. David Autor, Anna Salomons (2018) đã sử dụng tăng trưởng TFP, một thước đo toàn diện về tiến bộ công nghệ.

Bởi vì tất cả các biên độ của tiến bộ công nghệ cuối cùng đều dẫn đến sự gia tăng TFP - bằng cách tăng hiệu quả của vốn hoặc LĐ trong sản xuất hoặc bằng cách phân bổ lại các nhiệm vụ từ LĐ sang vốn hoặc ngược lại. Nghiên cứu này đã chỉ ra những thay đổi trong TFP cấp ngành ảnh hưởng như thế nào đến số lượng và giá trị gia tăng (GTGT), việc làm, thu nhập và tỷ trọng LĐ trong GTGT toàn nền kinh tế, để rút ra những suy luận về tăng cường LĐ ở cấp độ ngành và tác động thay thế LĐ của TĐCN. Gần đây nhất, K. Theodorakopoulos (2022), chỉ ra rằng để đo lường TĐCN có thể sử dụng chỉ số TFP đó là các biện pháp TĐCN được suy ra từ chức năng sản xuất và sử dụng đầu vào.

Các nghiên cứu cho thấy để đo lường TFP có hai phương pháp phổ biến là: phân tích bao dữ liệu (DEA) và phương pháp biên ngẫu nhiên (SFA). Các nghiên cứu sử dụng phương pháp DEA: Rao và cộng sự (2003), O’Donnell và cộng sự (2008) sử dụng mô hình DEA trong phân tích sự khác biệt năng suất nông nghiệp của 97 nước. Krishnasamy và Ahmed (2009) sử dụng DEA để phân tích tăng trưởng năng suất và chỉ ra khoảng cách giữa 26 nước OECD. Oh và Lee (2010) xây dựng chỉ số Malmquist TFP toàn cục nhằm đo lường xu hướng thay đổi của hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và năng suất trong giai đoạn 1970-2000 với mẫu gồm 58 nước được chia thành 5 khu vực.

Chen và Song (2008) sử dụng DEA ước lượng hiệu quả kỹ thuật và khoảng cách trong công nghệ sản xuất giữa 4 khu vực bao gồm 31 tỉnh của Trung Quốc vào những năm 1990. Moreira và Bravo-Ureta (2010) đo lường hiệu quả kỹ thuật và tỷ lệ khoảng cách công nghệ của các trang trại bò sữa ở 3 quốc gia: Argentina, Chile và Uruguay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tác động của công nghệ đến chuyển dịch lao động trong ngành chế biến chế tạo Việt Nam" phân tích những ảnh hưởng sâu sắc của công nghệ đến sự chuyển dịch lao động trong ngành chế biến chế tạo tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng sự phát triển của công nghệ không chỉ làm thay đổi cách thức sản xuất mà còn ảnh hưởng đến cơ cấu lao động, yêu cầu người lao động phải nâng cao kỹ năng và thích ứng với những công nghệ mới. Bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan về những thách thức và cơ hội mà công nghệ mang lại, giúp người đọc hiểu rõ hơn về xu hướng phát triển của ngành này.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo bài viết Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mạng công nghiệp 4.0 và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển công nghiệp tại Việt Nam. Ngoài ra, bài viết Luận văn cách mạng công nghiệp 4.0 cơ hội và thách thức với Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những cơ hội và thách thức mà Việt Nam đang đối mặt trong bối cảnh công nghiệp 4.0. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ triết học tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của cách mạng công nghiệp đến lực lượng sản xuất, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự chuyển mình của ngành chế biến chế tạo.