Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Chương 3: Các giải pháp phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Khái niệm Tín dụng là thuật ngữ thường xuyên được sử dụng trong nền kinh tế hàng hóa. Trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển, tín dụng ngày càng phổ biến và đa dạng hơn. Đến nay đã có rất nhiều tài liệu, tác giả đã đề cập đến khái niệm tín dụng. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Việt Nam, “tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả”.
Do đó tín dụng, theo nghĩa rộng, là sự tín nhiệm, sự tin cậy, lòng tin… trong phạm vi kinh tế, tiền tệ, tín dụng được hiểu là số tiền cho vay, cho mượn. Tín dụng là quan hệ vay mượn theo nguyên tắc hoàn trả. Người sử dụng tiền trong quan hệ tín dụng có nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp và có thời hạn. Như vậy, có thể tham khảo các ý trên để đưa ra khái nhiệm về tín dụng như sau: tín dụng là một khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay.
Trong đó, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản chi phí. Căn cứ theo Mục 14 Điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành hiệu lực ngày 01/01/2011 “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Theo quan điểm tác giả, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các khách hàng là tổ chức, cá nhân được thực hiện dưới hình thức chủ yếu là ngân hàng cấp tín dụng cho các khách hàng theo các hình thức cấp tín dụng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.Bản chất Tín dụng là quan hệ giữa người cấp tín dụng và người được cấp tín dụng, nhờ quan hệ này mà vốn tín dụng (tiền hoặc hiện vật) được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế.
Bản chất của tín dụng thường là giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả với những đặc trưng sau: Quan hệ tín dụng được thiết lập chủ yếu trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm. Chủ thể tham gia vào quan hệ này gồm ít nhất là hai bên: bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng. Tín dụng mang tính hoàn trả đúng hạn về thời gian và giá trị bao gồm phần gốc và chi phí. Trong hoạt động ngân hàng thì giá cả trong hoạt động tín dụng là loại giá cả đặc biệt: vì vốn là một hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng.
Và khi nói đến tín dụng, thông thường phải kể đến ba yếu tố chính: - Có sự chuyển nhượng vốn hoặc hàng hóa vốn từ bên cấp tín dụng sang bên được cấp tín dụng; - Sự chuyển nhượng này có thời hạn; - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân loại Việc phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu thức nhất định tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý, khả năng cung ứng của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân loại: 1.
Dựa vào thời hạn tín dụng Phân chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn, sinh lợi, mức độ rủi ro của tín dụng và khả năng hoàn trả của khách hàng. Có 3 loại sau đây: Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống; Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng; Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng.Dựa vào hình thức tín dụng Dựa vào tiêu chí này, tín dụng bao gồm các loại chủ yếu sau: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh (trong và ngoài nước), bao thanh toán và cho thuê tài chính. Dựa vào vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng có 2 loại: Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng được bảo đảm bằng các tài sản thông qua các biện pháp bảo đảm như: cầm cố, thế chấp, ký cược, ký quỹ… Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng không được bảo đảm bằng bất cứ tài sản bảo đảm nào. Dựa vào mục đích tín dụng, có một số loại sau: Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp.
Tín dụng tiêu dùng cá nhân. Tín dụng bất động sản Tín dụng nông nghiệp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Tín dụng kinh doanh xuất nhập khẩu … 1. Dựa vào đối tượng khách hàng Tín dụng khách hàng cá nhân: là tín dụng dành cho đối tượng khách hàng là các cá nhân và hộ gia đình; Tín dụng khách hàng doanh nghiệp: là tín dụng dành cho đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp được thành lập dưới dưới các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh… 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NHTM Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy hình thức tín dụng đầu tiên xuất hiện trên thế giới là tín dụng nặng lãi.
Đặc điểm của tín dụng này là lãi suất cao nhằm thoả mãn nhu cầu chi tiêu của người cho vay tiền. Đối với các thương gia, người sản xuất, họ không thể chấp nhận hình thức tín dụng này. Chính điều đó đã làm cho tín dụng nặng lãi bị thu hẹp dần, thay vào đó là các hình thức tín dụng với lãi suất cho vay thấp hơn, phù hợp hơn với lợi ích kinh tế của người kinh doanh. Từ đó ngân hàng thương mại ra đời và hình thức cho vay cá nhân cũng được khai sinh.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội thời trước, hoạt động tín dụng cá nhân đáp ứng được một số nhu cầu của khách hàng cá nhân như: nhu cầu thẻ tín dụng, các khoản vay trả chậm trực tiếp và gián tiếp, vay thế chấp, v.v… và được các NHTM, tổ chức đánh giá và lượng hóa khả năng thanh toán, mức độ rủi ro của cá nhận đó bằng thang điểm tín dụng. Đặc biệt là sự xuất hiện của thẻ tín dụng vào những năm 60 đã mở ra một bước tiến mới cho hệ thống NHTM. Số lượng khách hàng đăng ký xin cấp thẻ tín dụng ngày một tăng do đáp ứng được nhu cầu thanh toán, tiêu dùng của khách hàng. Sự kiện đánh dấu cột mốc quan trọng là việc thông qua đạo luật Cơ hội Tín Dụng Ngang Bằng ở Mỹ năm 1975 và 1976.
Nội dung chủ yếu của nó là cấm sự phân biệt đối xử tín dụng trong việc cấp tín dụng trừ phi sự phân biệt đó đã được chứng minh trên cơ sở thống kê. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Đến giai đoạn sau này, sau khi xảy ra khủng hoảng tín dụng thứ cấp nhà ở tại Mỹ từ nửa suối năm 2008 sau đó lan ra thành khủng hoảng tài chính tại nhiều quốc gia khác trên thế giới, các Ngân hàng thương mại (NHTM) và Công ty tài chính tiêu dùng thu hẹp và chấn chỉnh lại dịch vụ cho vay cá nhân. Hạn mức chi tiêu thẻ tín dụng tại nhiều nước giảm xuống chi còn 50%; đặc biệt tín dụng tiêu dùng cho vay mua nhà ở tại Mỹ sụt giảm mạnh. Nhưng đến nay tín dụng cá nhân được phục hồi, lại tiếp tục trở lại sự sôi động, với nhịp điệu gia tăng của hầu hết các ngân hàng trên thế giới với ba đối tượng chính: mua xe ô tô, mua nhà ở, thẻ tín dụng.
Tại Mỹ, sản phẩn tín dụng tiêu dụng đã được” chuẩn “ lại. Tín dụng cá nhân phát triển từ lâu trên thế giới và hiện nay được các ngân hàng thiên về dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại nhiều nước rất quan tâm phát triển. Đây là phân khúc thị trường tín dụng đem lại nguồn thu nhập quan trọng và tạo điều kiện cho các ngân hàng bán trọn gói sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, nên được các ngân hàng có truyền thống về lĩnh vực này đẩy mạnh cạnh tranh, mở rộng. Một số NHTM hiện đang có thế có thế mạnh về mảng tín dụng khách hàng cá nhân với tầm hoạt động quốc tế như HSBC, Citibank, Standard Chartered Bank, ANZ … Theo dòng thời gian, đến nay khi việc NHTM cho vay đối với những doanh nghiệp nhà nước, công ty lớn, những tập đoàn đa quốc gia bị ảnh hưởng nhiều bởi năng lực tài chính, quản trị, kinh nghiệm, nhân sự, quy trình, khả năng quản lý rủi ro của NHTM thì việc cho vay cá nhân của NHTM lại khá đơn giản, không đòi hòi quá khắt khe và dễ dàng triển khai, dễ dàng quản lý cũng như xử lý khi xảy ra biến cố.
Đồng thời khi nền kinh tế ngày càng phát triển, hội nhập quốc tế sâu rộng hơn thì những ảnh hưởng bởi suy thoái, khó khăn của nền kinh tế thế giới dễ tác động đến hoạt động cho vay doanh nghiệp hơn. Đồng thời trong xu thế phát triển hội nhập tài chính thế giới thì các NHTM muốn mở rộng quy mô, tầm hoạt động sang các nuớc khác. Tuy nhiên, các doanh nghiệp, tổng công ty, tập đoàn lớn tại các quốc gia đều đã có những NHTM nội địa phục vụ và ổn định. Nên cơ hội về thị phần tín dụng chỉ còn nhiều cho các NHTM này trong mảng khách hàng cá nhân.