Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1. Thương mại quốc tế: khái niệm, phân loại và vai trò 1. Khái niệm thương mại quốc tế TMQT là hoạt động kinh tế có từ lâu đời ( từ thời cổ đại nhưng lúc đó quy mô còn nhỏ bé). TMQT chỉ thực sự phát triển trong thời đại tư bản chủ nghĩa và trở thành động lực phát triển quan trọng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Ngày nay, TMQT không chỉ là quan hệ mua bán với bên ngoài mà còn có ý nghĩa là cùng với quan hệ kinh tế đối ngoại khác giúp một quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia vào phân công lao động quốc tế và khu vực. Vậy TMQT là gì? “TMQT là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình giữa các quốc gia) thông qua mua – bán, lấy tiền tệ làm môi giới chung, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá”[13,tr33]. Nói cách khác: TMQT là hoạt động trao đổi, mua, bán hàng hóa và dịch vụ vượt biên giới một quốc gia, thông qua các hoạt động XNK. Trong đó XK là việc bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài, còn NK là việc mua hàng hóa dịch vụ từ nước ngoài.
Hoạt động XNK phân biệt với hoạt động thương mại nội địa ở chỗ: phạm vi hoạt động vượt biên giới quốc gia; có sự tham gia kinh doanh của chủ thể nước ngoài; địa điểm sản xuất và tiêu thụ hàng hóa thường ở hai quốc gia khác nhau; thanh toán thường sử dụng các đồng tiền có khả năng chuyển đổi. Hoạt động XNK hình thành và phát triển từ rất lâu và quy mô của nó ngày càng mở rộng với tốc độ ngày càng cao. Các nhà nghiên cứu rút ra những kết luận cơ bản làm cơ sở cho các quốc gia hoạch định chính sách và 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác động cụ thể vào hoạt động XNK. Tùy theo mục đích, nhận thức và phương pháp nghiên cứu, các nhà nghiên cứu kinh tế đã đưa ra các lý thuyết về hoạt động TMQT.
Các lý thuyết này đã góp phần hoặc là giải thích bản chất của hoạt động XNK hoặc minh chứng cho sự tác động chính sách của Chính phủ vào lĩnh vực này. Có thể phân chia các lý thuyết về TMQT thành 3 nhóm: (1) Nhóm lý thuyết cổ điển về thương mại quốc; (2) Nhóm lý thuyết tân cổ điển về TMQT; (3) Nhóm lý thuyết hiện đại về TMQT. Nhóm lý thuyết cổ điển về TMQT Adam Smith (1723 -1790) là người đầu tiên đưa ra sự phân tích có tính hệ thống về nguồn gốc TMQT. Ông đã xây dựng mô hình thương mại đơn giản dựa trên ý tưởng về lợi thế tuyệt đối để giải thích TMQT có lợi như thế nào đối với các quốc gia (Xem thêm phụ lục 1).
Khi đánh giá lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A. Học thuyết TMQT dựa trên cơ sở chi phí cơ hội đã mở rộng lý thuyết cổ điển về TMQT. Việc giả định rằng chi phí cơ hội là tăng dần đã làm cho lý thuyết này trở nên thực tế hơn và có tính khái quát hơn. Phần đầu nêu lên bản chất và các lý do dẫn đến chi phí cơ hội tăng dần, tiếp theo yếu tố cầu được đưa vào kết hợp với yếu tố cung xác định điểm cân bằng.
Lợi ích từ thương mại được chỉ ra trong cả hai trường hợp phân tích cân bằng tổng quát và phân tích cân bằng bộ phận (Xem thêm phụ lục 3). 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhóm lý thuyết tân cổ điển về TMQT Những hạn chế của lý thuyết cổ điển về TMQT là ở chỗ nó cho rằng thương mại diễn ra trên cơ sở có sự chênh lệch năng suất lao động giữa các quốc gia. Vào đầu thế kỷ 20, hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Eli Heckscher (1879-1952) và Bertil Ohlin (1899-1979) đã nhận thấy rằng chính mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất ở các quốc gia khác nhau và mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất để làm ra các mặt hàng khác nhau mới là các nhân tố quan trọng quy định thương mại. Lý thuyết mà họ xây dựng thường được gọi là Định lý Heckscher - Ohlin (viết tắt là H-O) hay lý thuyết tân cổ điển về TMQT (Xem thêm phụ lục 4).
Nhóm lý thuyết hiện đại về TMQT Nhóm lý thuyết hiện đại lý giải nguyên nhân thúc đẩy hoạt động TMQT là do (1) Hiệu suất tăng dần theo quy mô; (2) Khoảng cách công nghệ giữa các quốc gia; (3) Vòng đời sản phẩm (Xem thêm phụ lục 5) Theo lý thuyết thương mại dựa trên hiệu suất tăng dần theo quy mô thì một trong những lý do quan trọng dẫn đến TMQT là tính hiệu quả tăng dần theo quy mô. Sản xuất được coi là có hiệu quả nhất khi được tổ chức trên quy mô lớn. Lúc đó một sự gia tăng đầu vào với tỷ lệ nào đó sẽ dẫn tới sự gia tăng đầu ra (sản lượng) với tỷ lệ cao hơn (Xem thêm phụ lục 5). Lý thuyết về khoảng cách công nghệ được Posner đưa ra vào năm 1961.
Nó dựa trên ý tưởng rằng công nghệ luôn luôn thay đổi dưới hình thức ra đời các phát minh và sáng chế mới, và điều này tác động đến XK của các quốc gia. Sau khi một phát minh ra đời, một sản phẩm mới xuất hiện và trở thành mặt hàng mà quốc gia phát minh có lợi thế tuyệt đối tạm thời. Trong mô hình này sản phẩm chỉ được XK nếu như thời gian cần thiết để sản phẩm được bắt chước ở nước ngoài phải dài hơn thời gian để xuất hiện nhu cầu về sản phẩm từ thị trường nước ngoài. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lý thuyết vòng đời sản phẩm thực chất là sự mở rộng lý thuyết khoảng cách công nghệ.
Các phát minh có thể ra đời ở các nước giàu, nhưng điều đó không có nghĩa là quá trình sản xuất sẽ chỉ được thực hiện ở các nước đó mà thôi. Lý thuyết khoảng cách công nghệ chưa trả lời được câu hỏi là phải chăng các hãng phát minh sẽ tiến hành sản xuất tại những nước có điều kiện thích hợp nhất (tài nguyên, các yếu tố sản xuất) đối với mặt hàng mới. Các hình thức thương mại quốc tế 1. Thương mại hàng hóa quốc tế + Hàng hóa trong trao đổi TMQT là hàng hóa vật chất, hàng hóa dịch vụ + Trao đổi quốc tế về hàng hóa vật chất gọi là TMHH quốc tế, ở phạm vi một số quốc gia gọi là ngoại thương.
+ Do có sự cách biệt về địa lý, hàng hóa vật chất có sự di chuyển qua biên giới từ nước XK sang nước NK cùng các nghiệp vụ mua bán hàng hóa có cả dịch vụ kèm theo như vận chuyển, bảo quản, bảo hiểm thanh toán. Thương mại dịch vụ quốc tế + Trao đổi quốc tế về hàng hóa dịch vụ gọi là thương mại dịch vụ quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là dịch vụ thu ngoại tệ. + Hàng hóa dịch vụ là những hàng hóa tồn tại dưới dạng phi vật chất, khó, khó định lượng được, không dự trữ được. Quá trình cung cấp diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ.
+ Do sự khác biệt về địa lý giữa người cung cấp và người nhận dịch vụ, hàng hóa dịch vụ có thể di chuyển hoặc không di chuyển qua biên giới. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại + Đó là sự trao đổi quốc tế về một số các hàng hóa vô hình như các bí quyết công nghệ, bằng phát minh sáng chế, quyền sở hữu công nghiệp, chỉ dấu địa lý, thương hiệu… + Đây cũng chính là những hợp đồng kinh tế mang tính thời đoạn, hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào sự phát huy và mức độ bản quyền của công nghệ đó. Tính chất này tạo sự khác biệt giữa các hình thức này với tính chất mua bán đứt đoạn của các hình thức TMQT khác.
Mua sắm hàng hóa của chính phủ + Hầu hết các nước trên thế giới, chính phủ và các cơ quan thuộc chính là người mua hàng hóa lớn nhất bao gồm đủ loại từ những hàng hóa cơ bản tới các thiết bị máy móc công nghệ cao. + Là một hoạt động trong trao đổi hàng hóa hữu hình, nhưng chủ thể tiến hành trao đổi là các chính phủ hoặc được chính phủ ủy quyền. Sự trao đổi hàng hóa đó có được gọi là mua sắm hàng hóa của chính phủ. Vai trò của thương mại quốc tế Trong bối cảnh khu vực hóa, toàn cầu hóa đang trở thành một xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế thì vai trò của TMQT đặc biệt lớn.
Nó làm cho nền kinh tế của một nước thực sự là bộ phận khăng khít của nền kinh tế thế giới, thông qua hai hoạt động cơ bản là XK và NK. XNK có vai trò quan trọng vì nó mở rộng khả năng tiêu dùng và sản xuất của mỗi nước. XNK cho phép một nước tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng ở giới hạn khả năng sản xuất trong nước trong chế độ tự cung tự cấp. XNK đóng vai trò là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng trên phạm vi toàn thế giới, nó gắn các quá trình kinh tế trong nước với kinh tế khu vực, kinh tế thế giới.
Ý nghĩa bao trùm là sử dụng có hiệu quả hơn các lực lượng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sản xuất của quốc gia và của thế giới. XNK đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thực tế lịch sử chứng tỏ, các nước đi nhanh trên con đường tăng trưởng và phát triển kinh tế là các nước có nền ngoại thương mạnh, năng động. Đối với những nền kinh tế đang trong giai đoạn vừa chuyển đổi cơ chế vừa hội nhập mở cửa như hiện nay, vai trò của XNK lại càng quan trọng.
Nhiều nhà khoa học đã khẳng định trong thời đại ngày nay, không một nền kinh tế quốc dân nào có thể phát triển nhanh nếu không có hoạt động XNK, mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Quy mô, tốc độ tăng trưởng của tổng KN XNK hàng hóa và dịch vụ của những quốc gia đang phát triển có ý nghĩa quyết định đến độ mở chung của nền kinh tế cũng như nhịp độ hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Vì thế sự mở rộng hoạt động XNK, đặc biệt là XK sẽ là một trong những tiền đề, động lực trực tiếp thúc đẩy tốc độ phát triển để các quốc gia hòa nhập với trình độ phát triển của kinh tế thế giới.