phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn được bố cục thành 3 chương với những nội dung sau : Chƣơng 1 : Phát triển thị trường TPCP cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2 : Thực trạng phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam Chƣơng 3 : Định hướng và giải pháp phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam 6 CHƢƠNG 1 PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Thị trƣờng trái phiếu Chính phủ trong hệ thống tài chính 1. Khái quát về thị trường tài chính Việt Nam Trong thời gian thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, hệ thống tài chính của Việt Nam chủ yếu dựa vào hoạt động của hệ thống ngân hàng. Đến giữa những năm 1980 (năm 1986), Việt Nam đã tiến hành công cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường.
Điều này đòi hỏi hệ thống tài chính phải được thiết kế phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Quá trình cải cách hệ thống hệ thống tài chính nước ta được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh Ngân hàng vào tháng 5/1990, theo đó hệ thống Ngân hàng một cấp được chuyển thành mô hình hệ thống Ngân hàng hai cấp (NHTW Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và thực thi chính sách tiền tệ; hệ thống NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ). Cho đến nay, hệ thống tài chính Việt Nam, đặc biệt là NHTW và khu vực NHTM vẫn tiếp tục được cải cách, từng bước hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay, cơ cấu của thị trường tài chính Việt Nam gồm: Khu vực Ngân hàng (NHTM QD, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng cổ phần, Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Quỹ tín dụng Nhân dân) và khu vực phi Ngân hàng (Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính và Công ty cho thuê tài chính, Công ty chứng khoán).
Thị trường tài chính là nơi mua và bán các loại hình công cụ tài chính. Có thể nói rằng, thị trường tài chính mang lại lợi nhuận quan trọng cho các thành viên tham gia vì thị trường có thể tái phân phối vốn trong hệ thống tài chính hay nói cách khác là dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi cần vốn. Bên cạnh đó, thị trường tài chính cũng cho phép các đơn vị kinh tế điều chỉnh các loại nợ họ nắm giữ và phát hành để họ có thể đảm bảo khả năng trả nợ, quản lý rủi 7 ro và có khả năng thanh toán; thực hiện phát hành nợ để có thể đa dạng hoá các loại hình tài sản và có khả năng thanh toán. Các thị trường cấu thành cơ bản của thị trường tài chính Việt Nam đã được hình thành tương đối đầy đủ.
- Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, là nơi mua bán ngắn hạn các giấy tờ có giá. Các giấy tờ có giá được giao dịch trên thị trường tiền tệ bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình trung ương, trái phiếu đầu tư do ngân sách trung ương thanh toán, công trái và các loại giấy tờ có giá khác do Thống đốc NHTW quy định trong từng thời kỳ. Thị trường tiền tệ bao gồm: Thị trường nội tệ liên ngân hàng (được thành lâp và đi vào hoạt động năm 1993) và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (hoạt động từ tháng 10/1994), thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc (hoạt động từ năm 1995), nghiệp vụ thị trường mở (hoạt động từ tháng 7/2000). Thị trường tiền tệ là cơ sở quan trọng để NHTW điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, là điều kiện cần thiết cho thị trường vốn phát triển.
Từ khi Luật NHTW và Luật Các tổ chức tín dụng ra đời, hoạt động của thị trường tiền tệ từng bước được hoàn thiện. Hệ thống cơ sở kỹ thuật, công nghệ ngân hàng nhất là hệ thống giao dịch và các công cụ giao dịch được hiện đại hóa và đa dạng. Việc tự do hóa dần lãi suất đã khuyến khích các tổ chức tín dụng tham gia thị trường. Các nghiệp vụ như cho vay qua đêm, thanh toán bù trừ điện tử, nghiệp vụ thị trường mở được đưa vào áp dụng và sử dụng linh hoạt.
Thị trường nội tệ liên ngân hàng từng bước được hoàn thiện và có những tác động tích cực đối với hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng và điều hành chính sách tiền tệ của NHTW. Trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thành viên tham gia thị trường tăng từ 23 năm 1994 lên 59 thành viên năm 2004. Tỷ giá mua bán ngoại tệ (USD) giữa tổ chức tín dụng với khách hàng được dựa trên tỷ giá bình quân do NHTW công bố. Tỷ lệ kết hối giảm từ 80% năm 1998 xuống còn 30% năm 2001 và 0% năm 2003.
8 Hoạt động trên thị trường chủ yếu diễn ra một chiều. Hình thức mua bán ngoại tệ chủ yếu là giao dịch giao ngay, mua bán kỳ hạn chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 10% tổng giao dịch. Tuy nhiên, đến nay thị trường tiền tệ phát triển ở mức độ thấp, quy mô giao dịch trên thị trường còn nhỏ. Các công cụ tài chính chưa đa dạng về chủng loại và thời gian.
Thành viên tham gia thị trường chủ yếu là các tổ chức tín dụng có quy mô vốn lớn nhất là các NHTM Nhà nước. Mối liên kết tác động qua lại giữa các thị trường cấu thành của thị trường tiền tệ còn yếu. Mối quan hệ lãi suất trên thị trường nội tệ liên ngân hàng với các thị trường khác như thị trường khác như thị trường tín phiếu kho bạc, thị trường tín dụng. Vì vậy, lãi suất trên thị trường tiền tệ chưa phải là lãi suất để các lực lượng thị trường điều chỉnh lãi suất và có các quyết định đầu, tư thích hợp.
Hiệu quả điều hành các công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp còn hạn chế. - Thị trường tín dụng là thị trường được hình thành sớm nhất trong các thị trường cấu thành của thị trường tài chính. Đến nay tín dụng ngân hàng chính thức vẫn là kênh đáp ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế. Dư nợ tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng đến cuối năm 2004 đạt khoảng trên 50% GDP.
Các NHTM nhà nước chiếm khoảng 75%-80% thị phần cho vay và huy động cũng như tài sản của toàn hệ thống ngân hàng. Tiếp đến là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh (hơn 12%), NHTM cổ phần (gần 10%). Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng khá nhanh với tốc độ trung bình hàng năm 25%/năm. Hoạt động tín dụng ngân hàng còn một số vấn đề cần lưu ý như: chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng còn thấp, chứa đựng nhiều rủi ro, tỷ lệ an toàn vốn còn thấp so với thông lệ quốc tế, hệ thống thanh tra giám sát ngân hàng còn nhiều điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
Huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng khá mạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2004 khoảng 25%/năm, chủ yếu là nguồn 9 tiền gửi của tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm khoảng 50%, tiền gửi tiết kiệm chiếm khoảng 22%. Nguồn vốn không kỳ hạn và ngắn hạn chiếm tỷ trọng khoảng 70%. Nguồn vốn trung dài hạn chiếm tỷ trọng thấp khoảng 30% tổng nguồn vốn, chủ yếu là nguồn vốn có thời hạn từ 1 đến 2 năm, nguồn vốn có thời hạn từ 5 năm trở lên có tỷ trọng không đáng kể (khoảng 7% tổng nguồn vốn trung dài hạn). - Thị trường chứng khoán đã được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 đã có những đóng góp ban đầu trong việc huy động nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK TP. HCM) là nơi niêm yết và thực hiện các giao dịch tập trung của thị trường chứng khoán. Bên cạnh thị trường chính thức còn có thị trường phi chính thức. Đây là nơi diễn ra các giao dịch chứng khoán không niêm yết như cổ phiếu của các công ty nhỏ, của các công ty chuẩn bị niêm yết.
Thị trường trái phiếu- một bộ phận của thị trường chứng khoán bắt đầu hoạt động từ năm 1995. Trái phiếu ở Việt Nam được phát hành bao gồm 3 loại: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đầu tư và trái phiếu công ty. Chính phủ là chủ thể phát hành trái phiếu lớn nhất của Việt Nam. Các loại trái phiếu được giao dịch trên thị trường là trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công ty.
Từ ngày hoạt động đến nay, trái phiếu công ty chỉ có duy nhất trái phiếu của ngân hàng Đầu tư và Phát triển giao dịch trên thị trường. Cấu trúc của thị trường tài chính Theo cách thức huy động vốn, người ta có thể phân loại thị trường tài chính thành thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần. Thị trường vốn cổ phần Thị trường vốn cổ phần là thị trường mua bán các cổ phần của công ty cổ phần. Công cụ trên thị trường này là cổ phiếu không có kỳ hạn mà chỉ có thời điểm phát hành, không có ngày đáo hạn.
Người mua cổ phiếu chỉ có thể lấy lại tiền bằng cách bán lại cổ phiếu trên thị trường hoặc khi công ty tuyên bố phá sản. Cổ tức nhận được từ việc nắm giữ cổ phiếu chủ yếu phụ thuộc 1 vào hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần. Do đó cổ phiếu là công cụ có rủi ro cao. Thị trường nợ Thị trường nợ là thị trường mua bán các công cụ nợ như tín phiếu, trái phiếu, các khoản cho vay.
Các công cụ nợ đều có kỳ hạn nhất định, có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn. Mặc dù trái phiếu là công cụ tương đối an toàn, do các nghĩa vụ thanh toán của nó không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của người phát hành song trái phiếu lại chịu rủi ro lãi suất và rủi ro lạm phát. Trong thị trường nợ, có hai bộ phận quan trọng là thị trường nợ Chính phủ và thị trường nợ Công ty (trái phiếu công ty). Công cụ nợ của Chính phủ có rất nhiều loại, mỗi loại đều có mục đích phát hành, thời hạn phát hành khác nhau, tuy nhiên phạm vi luận văn đề cập là thị trường trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam do vậy Luận văn sẽ chỉ xem xét nghiên cứu trên cục diện toàn bộ các công cụ nợ của Chính phủ gồm cả các công cụ nợ ngắn hạn (tín phiếu) và dài hạn (trái phiếu).