Chương 1: Tập đoàn kinh tế nhà nước - Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Thực trạng phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chương 3: Định hướng và giải pháp tiếp tục phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam giai đoạn 2011- 2015 8 Chƣơng 1: TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƢỚC - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.Tập đoàn kinh tế Nhà nƣớc 1.Khái niệm TĐKT đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ thứ XX ở các nước tư bản phát triển. Tùy theo mỗi nước và hoàn cảnh lịch sử nhất định mà có những tên gọi và định nghĩa khác nhau về TĐKT và hiện chưa có một thuật ngữ, định nghĩa nào được xem là chuẩn mực. Tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, khi nói đến TĐKT người ta thường sử dụng các từ: “Consortium”, “Conglomerate”, “Conson”, “Cartel”, “Trust”, “Syndicate” hay “Group”, Enterprise group…Ở châu Á, trong khi người Nhật gọi TĐKT là “Keiretsu” hoặc “Zaibatsu” thì người Hàn Quốc lại gọi là “Cheabol”; còn ở Trung Quốc, cụm từ “Jituan Gongsi” được sử dụng để chỉ khái niệm này (chính xác hơn là Tổng công ty), Ấn Độ là Bussiness house.Có một điều đáng lưu ý là khi tồn tại như là một thực thể có tư cách pháp nhân, thì TĐKT lại được gọi là Conglomerate và/hoặc Holding company. Trên cơ sở tổng hợp các báo cáo nghiên cứu, có thể hiểu Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp sản xuất, kinh doanh bao gồm các doanh nghiệp có mối quan hệ ổn định, lâu dài với nhau theo nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực, với liên kết chủ yếu là công ty mẹ - công ty con.
Công ty mẹ và các công ty con (công ty thành viên) có tư cách pháp nhân, công ty mẹ là hạt nhân liên kết, thường nắm quyền kiểm soát, chi phối các hoạt động của công ty con. Các công ty thành viên cũng có những liên kết với nhau xuất phát từ lợi ích và chiến lược của mỗi công ty. Nó hoạt động ở một hay nhiều ngành khác nhau trong phạm vi một nước hay nhiều nước. TĐKT có các đặc trưng chủ yếu như: quy mô lớn về vốn, doanh thu và lao động; phạm vi hoạt động rất rộng, không chỉ giới hạn trong lãnh thổ một quốc gia mà có thể ở nhiều quốc gia và thậm chí là phạm vi toàn cầu; hầu hết các TĐKT đều thực hiện hình thức sở hữu hỗn hợp, một số ít sở hữu nhà nước và sở hữu gia đình.Có một số TĐKT ngay từ đầu đã hoạt động kinh doanh đa ngành, nhưng cũng 9 có một số phát triển dần từ đơn ngành đến đa ngành.
Nhưng kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực là đặc điểm dễ nhận thấy trong các TĐKT. Đặc trưng cơ bản, là tiền đề cần thiết để hình thành TĐKT và nó cũng thể hiện xu thế tất yếu trong điều kiện sự phát triển của lực lượng sản xuất đạt đến trình độ xã hội hóa ngày càng cao là có sự liên kết ổn định lâu dài giữa các thành viên trong TĐKT. Trong các quan hệ liên kết, liên kết về vốn là liên kết phổ biến và cơ bản nhất. TĐKT là tổ hợp kinh doanh chứa đựng trong nó các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân nhưng bản thân TĐKT lại không có tư cách pháp nhân.
Luật công ty của các quốc gia cũng không sử dụng thuật ngữ “firm”, “enterprise group”, business group” hay “group” mà chỉ là đăng ký là “công ty- company” (từ company trong tiếng Anh tương ứng với corporation trong tiếng Mỹ). Do đó, ngoài những quan hệ về vốn, thị trường, công nghệ,. các thành viên trong tập đoàn bình đẳng trước pháp luật, được thành lập và đăng ký theo quy định của pháp luật, được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật có liên quan. Cũng chính vì không có tư cách pháp nhân nên tập đoàn không chịu trách nhiệm liên đới về mặt pháp lý trong quá trình hoạt động đối với các công ty thành viên.
Cơ cấu tổ chức của tập đoàn kinh tế khá đa dạng, không có khuôn mẫu thống nhất. Cơ cấu tổ chức được xây dựng trên nền tảng văn hóa, đặc điểm ngành nghề kinh doanh, phong cách quản lý, chiến lược xây dựng và phát triển của mỗi tập đoàn. Nhìn chung, cơ cấu tập đoàn thường có một công ty mẹ và các công ty con, trong đó, các công ty mẹ thường đảm nhiệm các chức năng như phát triển thị trường, ứng dụng công nghệ mới, điều phối toàn tập đoàn vận động những quan hệ khác. Các công ty con độc lập với công ty mẹ, quan hệ với công ty mẹ thông qua vốn đầu tư, công nghệ, thị trường.
Các công ty con hoạt động độc lập trước pháp luật, có thể đầu tư vào nhau, thậm chí công ty con có thể đầu tư ngược vào công ty mẹ. Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con tùy thuộc từng mô hình tập đoàn. TĐKT Nhà nước (TĐKTNN) cũng giống như các TĐKT nói chung, đều có các đặc trưng của TĐKT và cũng có đủ 4 tiêu chí đó là: chịu sự quản lý theo luật pháp; hoạt động trong thể chế tài chính công khai, minh bạch; có thể huy động vốn từ khu vực tư nhân hoặc khu vực công dưới dạng bán trái phiếu hay cổ phần theo 1 những quy định chặt chẽ của luật pháp và của thể chế tài chính quốc gia, song không được phép có ngân hàng riêng; có khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và thế giới. Tính đặc thù của mô hình này thể hiện ở hai khía cạnh quan trọng, đó là: Thứ nhất, TĐKTNN thuộc sở hữu Nhà nước và sự hình thành các TĐKTNN có sự can thiệp mạnh mẽ của nhà nước.
Đối với TĐKTNN, nhà nước là chủ sở hữu và về mặt cơ cấu sở hữu, Công ty mẹ trong TĐKTNN chiếm cổ phần chi phối, các công ty con có thể là công ty nhà nước hoặc cổ phần. Khi mới thành lập, vốn nhà nước có thể chiếm tới 100% nhưng sau đó tỷ lệ này giảm dần, đến mức đủ đảm bảo chi phối, tỷ lệ tùy theo quy định của từng nước cũng như trình độ tích tụ vốn của TĐKT. Quá trình hình thành, phát triển các TĐKT ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau mang những đặc điểm khác nhau và chịu sự chi phối của hàng loạt những yếu tố tác động như thể chế, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, môi trường kinh doanh, sự đồng bộ của các yếu tố thị trường, vai trò của nhà nước hay chính quyền.Khái quát lại có hai con đường chủ yếu hình thành các TĐKT [23,tr. Con đường truyền thống, sự hình thành TĐKT là kết quả của quá trình tích tụ và tập trung vốn, tái đầu tư, mở rộng sản xuất, thôn tính và sát nhập các công ty, liên kết tự nguyện… Con đường rút ngắn, TĐKT được hình thành trên cơ sở đầu tư của nhà nước.
Thực tế là, ở một số nước, nếu chỉ dựa vào quá trình phát triển tuần tự, tích tụ và tập trung vốn sẽ rất ít có cơ hội cho doanh nghiệp ở các nước phát triển muộn hơn, do đó, ngoài cách thức truyền thống, nhiều nhà nước đã trực tiếp can thiệp vào việc tổ chức một số TĐKT nhằm rút ngắn thời gian hình thành các TĐKT. Sự can thiệp này diễn ra ở hai mức độ. Ở mức độ thấp, nhà nước chỉ tạo điều kiện hỗ trợ về vốn thông qua các chính sách ưu đãi về vốn và khuyến khích về thuế trong một số ngành hoạt động theo chính sách công nghiệp (ví dụ: Nhật Bản với việc hình thành các Keretsu, Hàn Quốc với việc hình thành các Cheabol). Các TĐKT này mặc dù có sự 1 hỗ trợ và can thiệp của Chính phủ, nhưng các TĐKT ra đời theo con đường này vẫn chưa phải là TĐKTNN.
TĐKTNN hình thành khi có sự can thiệp của nhà nước ở mức độ cao hơn, nhà nước đầu tư vốn thành lập các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động trong một số lĩnh vực trọng yếu hoặc độc quyền nhà nước, sau một thời gian hoạt động, nhà nước cơ cấu lại khu vực này theo mô hình TĐKT thông qua các quyết định hành chính hoặc tự sát nhập với nhau. Mặc dù TĐKTNN vẫn hoạt động theo thị trường, nhưng nhà nước can thiệp cả vào các hoạt động, chỉ định lãnh đạo, vốn, đầu tư, quan hệ trong ngành. Mức độ sở hữu của nhà nước càng cao thì phạm vi điều tiết càng rộng và mức độ điều tiết càng mạnh. Thứ hai, TĐKTNN có 3 chức năng chính, bao gồm: chống nguy cơ độc quyền tư nhân đối với những sản phẩm kinh tế cần thiết cho sự phát triển kinh tế chung của cả nước; nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế so với các quốc gia khác trên thị trường thế giới và đáp ứng những yêu cầu có liên quan mật thiết đến an ninh và quốc phòng.
Ở các nước như Việt Nam và Trung Quốc, TĐKTNN bên cạnh 3 chức năng chính như trên, TĐKTNN ở các nước này còn được đặt trọng trách là “quả đấm thép” khẳng định vai trò chủ đạo của Kinh tế nhà nước để thực hiện định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế. Chức năng này xuất phát từ con đường phát triển ở các nước này có những đặc thù riêng, xuất phát từ chức năng xã hội của nhà nước. Lịch sử hình thành và phát triển TĐKT nhà nước TĐKTNN không phải là một mô hình mới, mô hình này đã xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XIX ở các nước tư bản phát triển. Nguyên nhân chính dẫn đến sự xuất hiện này là do quá trình tích tụ, tập trung tư bản và trình độ xã hội hóa sản xuất cao độ dẫn đến nhà nước tham gia vào nền kinh tế với vai trò điều tiết vĩ mô, chủ thể kinh tế và thay đổi sở hữu của các công ty từ tư nhân sở hữu sang tập thể sở hữu (hình thành công ty cổ phần).
1 Bên cạnh đó, một số sản phẩm hay ngành kinh tế tự nó mang tính độc quyền rất cao, nếu đặt trong khu vực tư nhân thì ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh so với các nước xung quanh.