Chương 1: Những nội dung cơ bản về phát triển quan hệ lao động trong doanh nghiệp Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển quan hệ lao động tại Xí nghiệp SXPTTB PCCC - Công ty TNHH MTV BCA Thăng Long Chương 3: Những giải pháp nhằm phát triển quan hệ lao động tốt đẹp tại Xí nghiệp SXPTTB PCCC - Công ty TNHH MTV BCA Thăng Long 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về quan hệ lao động trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về quan hệ lao động Các mối quan hệ xã hội giữa người với người bao gồm quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ đạo đức, quan hệ tôn giáo và quan hệ lao động. Quan hệ lao động được cấu thành bởi các mối quan hệ giữa người với người trong quá trình lao động. Nó gồm các nội dung như: quan hệ hợp tác giữa những người lao động, giữa các tổ nhóm, các khâu trong một dây chuyền sản xuất, quan hệ giữa chỉ huy điều hành với việc tiến hành những công việc cụ thể.
Nhóm các quan hệ này chủ yếu do những nhu cầu khách quan của sự phân công và hợp tác sản xuất, trang bị kỹ thuật và công nghệ quyết định. Ngoài ra, các mối quan hệ giữa người và người liên quan trực tiếp tới quyền, nghĩa vụ, quyền lợi trong và sau quá trình lao động cũng cấu thành lên mối quan hệ lao động. Khi hiểu theo nghĩa thông thường, quan hệ lao động chủ yếu gồm các quan hệ thuộc nhóm thứ hai và luật pháp về quan hệ lao động của mỗi quốc gia cũng thường chỉ thể chế hoá và điều chỉnh các nội dung thuộc nhóm này. Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đưa ra những định nghĩa về quan hệ lao động.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở dẫn chiếu Giáo sư John W. Budd (2010): Quan hệ lao động là lý luận và thực tiễn về quản lý việc sử dụng lao động được tổ chức thành công đoàn. Về mặt học thuật, quan hệ lao động thường được hiểu là một bộ phận của quan hệ công nghiệp, cho dù nhiều học giả trong các lĩnh vực – bao gồm kinh tế, xã hội, lịch sử, luật và khoa học chính trị còn nghiên cứu về công đoàn và phong trào công đoàn. Trong thực tiễn, quan hệ lao động thường được coi là một bộ phận 8 của quản trị nhân sự.
Quan hệ lao động phản ánh lịch sử lao động, luật lao động, tổ chức công đoàn, đối thoại, quản trị hợp đồng, và các nội dung đương đại quan trọng. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa quan hệ lao động là: Những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa những người lao động và sử dụng lao động tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ giữa các đại diện của họ với Nhà nước. Những mối quan hệ như thế xoay quanh các khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội học và tâm lý học và bao gồm cả những vấn đề như tuyển mộ, thuê mướn, sắp xếp công việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, chỗ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép, các vấn đề phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật [25, Q1, Tr239]. Theo Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam giải nghĩa: Quan hệ lao động là quan hệ xã hội hình thành trong quá trình sử dụng sức lao động giữa một bên là người có sức lao động (người lao động) và một bên (cá nhân hoặc pháp nhân) là người sử dụng sức lao động đó.
Trong quan hệ lao động, người lao động phải thực hiện một nội dung hoạt động lao động nào đó, còn bên sử dụng sức lao động phải trả công, hoặc trà lương và đảm bảo những điều kiện lao động cần thiết khác cho họ. Hợp đồng lao động là hinh thức pháp lí chủ yếu và phổ biến nhất của các quan hệ lao động [24, tr304-305]. Theo Bộ luật Lao động của nước ta năm 2012, “QHLĐ là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng LĐ, trả lương giữa người lao động NLĐ) và người sử dụng lao động NSDLĐ)”[3, tr11]. Ngoài ra, QHLĐ còn được hiểu là mối quan hệ giữa NLĐ hoặc tập thể lao động với NSDLĐ được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên 9 tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền.
QHLĐ giữa NSDLĐ và NLĐ bao gồm QHLĐ cá nhân và QHLĐ tập thể được thể hiện bằng các HĐLĐ cá nhân và TƯLĐTT. Khái quát lại có thể hiểu “Quan hệ lao động là quan hệ việc làm giữa một bên là người lao động với một bên là người chủ sử dụng lao động và quan hệ này liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm trong quá trình thực hiện công việc đã được giao kết thông qua hợp đồng lao động”. Phân loại quan hệ lao động Quan hệ lao động là một phạm trù rộng bao gồm nhiều quan hệ có liên quan, Dựa vào các tiêu chí khác nhau sẽ có cách phân loại khác nhau. Hiện nay có rất nhiều cách phân loại quan hệ lao động nhưng có một số cách phân loại dựa trên những tiêu chí chủ yếu sau: Thứ nhất, căn cứ váo quy mô của quan hệ lao động: Có quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể.
Thứ hai, căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ lao động: Có quan hệ lao động hai bên (quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động); quan hệ lao động ba bên (quan hệ lao động giữa dại diện người lao động, đại diện người sử dụng lao động và đại diện cơ quan Nhà nước). Thứ ba, căn cứ vào trình tự quan hệ lao động: Có quan hệ lao động tiền lao động quan hệ học nghề, thử việc, quan hệ lao động trong lao động (quan hệ tiền lương, an toàn lao động, kỷ luật lao động, chế độ chính sách đổi với người lao động, tranh chấp lao động.); quan hệ hậu lao động quan hệ bảo hiểm xã hội). Thứ tư, căn cứ vào nội dung quan hệ lao động: Có quan hệ về việc làm, quan hệ về học nghề, quan hệ về bảo hiểm xã hội, quan hệ về bồi thường thiệt hại, quan hệ về tiền lương, quan hệ về đàm bảo an toàn lao động, quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động, quan hệ về chấp hành kỷ 10 luật lao động. Thứ năm, căn cứ vào cấp quan hệ lao động: Có quan hệ lao động cấp doanh nghiệp, quan hệ lao động cấp tỉnh hoặc khu vực; quan hệ lao động cấp ngành; quan hệ lao động cấp quốc gia và quan hệ lao động đa quốc gia.
Thứ sáu, căn cứ vào tính pháp lý: Có quan hệ kinh tế - lao động và quan hệ pháp luật lao động. Các chủ thể cấu thành quan hệ lao động Có 3 nhóm chủ thể cấu thành quan hệ lao động: những người lao động và tổ chức đại diện cho quyền lợi của họ; người sử dụng lao động (giới chủ) và tổ chức đại diện cho quyền lợi của họ; Nhà nước. Sau đây là sự xem xét kỹ hơn các bên chủ thể của quan hệ lao động. Sơ đồ 1: Chủ thể cấu thành quan hệ lao động [26, tr101] Nguồn: Vũ Việt Hằng (2004)-[26.
Tr101] Thứ nhất là Người lao động: NLĐ là những người tham gia vào một thỏa thuận mà theo đó họ phải thực hiện một công việc nhất định, được cung cấp các phương tiện vật 11 chất cần thiết để làm và được nhận một số tiền nhất định. Công đoàn (CĐ) là tổ chức đại diện cho NLĐ trong phạm vi QHLĐ, có cơ cấu chính thức và mục tiêu rõ ràng. CĐ hoạt động với các chức năng chủ yếu: bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của NLĐ; giáo dục và giúp NLĐ phát triển ý thức nghề nghiệp, ý thức kỷ luật; tham gia quản lý doanh nghiệp, quản lý Nhà nước để góp phần cải tạo xã hội cho tốt đẹp hơn. Có thể nói, CĐ là biểu tượng cụ thể của sự đoàn kết, của mối liên hệ giữa người với người trong quá trình làm việc.
Thứ hai là Người sử dụng lao động (NSDLĐ) Trong QHLĐ, khi có NLĐ thì phải có NSDLĐ. Tuy nhiên, NSDLĐ là một khái niệm phức tạp, đôi khi mơ hồ và dễ n h ầ m lẫn.Theo cách suy nghĩ cổ điển, NSDLĐ là người sở hữu vốn, là người chủ hợp đồng (nên còn được gọi là giới chủ). Nhưng hiện nay lại có quan niệm rằng: không nhất thiết NSDLĐ phải là chủ sở hữu doanh nghiệp, mà chỉ cần họ có quyền tuyển dụng, sa thải lao động hay họ là những người làm cho người khác phải làm việc. Vì vậy, trong Bộ luật Lao động của một số nước, tất cả những người làm công tác quản lý từ tổng giám đốc đến đốc công) đều được gọi là NSDLĐ.
Theo một quan điểm khác, NSDLĐ không phải là những con người cụ thể theo nghĩa đen mà là đại diện cho đơn vị hay tổ chức tham gia vào các cuộc thương lượng tập thể với công đoàn. Thứ ba: Nhà nước Nhà nước : Trong buổi sơ khai, QHLĐ chỉ mới diễn ra giữa giới chủ và giới thợ và trong quan hệ đó, NLĐ luôn ở vào thế yếu, hay chịu thiệt thòi. Dần dần, vì sự ổn định xã hội, Nhà nước nhận thấy cần phải tham gia vào với những can thiệp ban đầu là quy định các mức lương tối thiểu, thời gian làm việc tối đa trong ngày, tuần… Mối quan hệ ba bên dần dần được hình thành và Nhà nước có hai chức năng chủ yếu là: Đảm bảo khuôn khổ pháp lý để QHLĐ vận hành, thông qua các điều 12 luật cụ thể về quyền và nghĩa vụ của hai bên, các quy định về thủ tục, trình tự giải quyết các tranh chấp, xung đột. Tham gia giải quyết tranh chấp dưới các hình thức thanh tra, hòa giải và xét xử.
Cơ chế “ba bên” trong quan hệ lao động Để đảm bảo cho sự ổn định xã hội lâu dài, Nhà nước thấy cần phải can thiệp vào mối quan hệ lao động như: khống chế mức lương tối thiểu, thời gian làm việc tối đa trong ngày, trong tuần,. Cũng chính từ đó, quan hệ lao động hình thành cơ chế ba bên (Nhà nước - giới chủ sử dụng lao động - giới lao động). Theo cơ chế này Nhà nước tham gia vào để điều chỉnh quan hệ lao động bằng luật pháp về lao động, xử lý tranh chấp, giám sát thực hiện, ban hành các luật lệ phù hợp với tình hình thực tiễn.