CHƯƠNG I - TỔNG QUAN VỀ E-LEARNING 1. Đào tạo từ xa e-learning 1. Khái niệm e-Learning E-learning, viết tắt của Electronic Learning, là một thuật ngữ mới xuất hiện nên chưa có định nghĩa thống nhất. Một số tổ chức nghiên cứu có uy tín về e- Learning trên thế giới đã đưa ra một số định nghĩa, khái niệm: * E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông- Compare Infobase Inc (www.in) * E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, phân phoío hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục - MASIE Center (www.com) * E-Learning là việc học tập được phân phối hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử.
Việc phân phối qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT) – Sun Microsystems, Inc (www.com) * E-Learning là việc phân phối các hoạt động, quá trình và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân…- e-Learning site (www.com) Hiểu theo nghĩa rộng, e-learning là một thuật ngữ mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông. Để hiểu rõ hơn về nó, chúng ta cùng tìm hiểu và so sánh nó với những khái niệm trước kia qua các nội dung tiếp theo. Vũ Trường Minh - Lớp CHĐT2 – K79 Niên khóa 2007-2009 – ĐHBKHN 13 Luận văn tốt nghiệp 1. Một số hình thức dạy - học Quá trình dạy và học là một quá trình được lập kế hoạch tỉ mỉ và khảo nghiệm chặt chẽ nhằm thiết lập một hệ thống truyền tải tri thức hợp lí trong môi trường sư phạm thích hợp để dẫn dắt người học đạt được các mục tiêu học tập đặc biệt.
Việc lựa chọn, sắp xếp thông tin, tri thức và môi trường sư phạm trong quá trình dạy và học thường là trách nhiệm của người dạy, người thiết kế phương tiện với mục tiêu là đảm bảo người học dễ dàng thu nhận và nắm vững các tri thức được người dạy truyền đi. Mặt khác, trong quá trình dạy và học, người dạy phải nắm vững được mức độ tiếp thu tri thức của người học và từ đó có những biện phản hòi cho người học, những uốn nắn, hướng dẫn, đánh giá, động viên, khen thưởng…kịp thời. Tri thức cần truyền đạt Người dạy Tri thức mới để cải tiến Người học Tri thức phản hồi sau khi cải tiến Hình 1. Sơ đồ quá trình dạy và học 1.
Hình thức dạy - học truyền thống Mô hình dạy và học truyền thống là một hình thức thụ động lấy việc dạy (người dạy) làm trung tâm và người học thụ động tiếp thu những kiến thức người dạy truyền đạt. Người dạy là chủ thể, là trung tâm truyền đạt, áp đặt các kiến thức có sẵn từ bên ngoài vào cho người học. Như vậy, người dạy truyền đạt kiến thức trực tiếp, một chiều cho người học bằng những phương tiện thích hợp. Người dạy khởi xướng và có trách nhiệm truyền đạt tri thức và là Vũ Trường Minh - Lớp CHĐT2 – K79 Niên khóa 2007-2009 – ĐHBKHN 14 Luận văn tốt nghiệp người trung gian cần thiết giữa vai trò và tri thức.
Có thể có sơ đồ hoá mối quan hệ giữa ba thành tố người dạy - người học - tri thức như sau: Trong đó: • Người dạy: là chủ thể, là trung tâm của quá trình • Tri thức: Ghi nhớ, lặp lại, thuộc lòng • Người học: thụ động tiếp thu Một mô hình đào tạo truyền thống thường gồm tập các thành phần cơ sở sau: Các khoá học, các lớp, các toà nhà, các bài giảng, các giáo viên, các học viên và những người quản trị. Người quản trị Lớp học Giáo viên Bài giảng Tòa nhà Học viên Các công cụ bài giảng Hình 1. Các thành phần cơ bản của một trường học Quá trình giảng dạy và học đã hình thành nên các cặp quan hệ như: Giáo viên-học viên, lớp học - học viên, người quản trị - học viên, người quản trị - khoa, phòng học - khoa học, người quản lý thiết bị - phòng học,v.v… Chẳng hạn, quan hệ giữa giáo viên và học viên là quan thệ theo quan điểm nhà cung cấp và khách hàng. Giáo viên là người truyền đạt (cung cấp) tri thức còn học viên là người lĩnh hội (thu nhận) các tri thức mà giáo viên truyền đạt.
Quan hệ Vũ Trường Minh - Lớp CHĐT2 – K79 Niên khóa 2007-2009 – ĐHBKHN 15 Luận văn tốt nghiệp giữa các thành phần hệ thống có thể là quan hệ 1-1 hoặc quan hệ 1 nhiều, ví dụ: một giáo viên và nhiều học viên. Hình thức dạy - học từ xa E-Learning Trong quá trình hình thành và phát triển, hình thức dạy và học truyền thống (là hình thức lấy người dạy làm trung tâm, bị hạn chế về không gian và thời gian) đã bộc lộ những thiếu sót của nó. Do đó để đáp ứng nhu cầu đào tạo từ xa qua mạng được phát triển dựa trên quan điểm đổi mới của mô hình đào tạo truyền thống là lấy học viên làm trung tâm cho quá trình đào tạo. Cấu trúc chức năng của quá trình dạy học được thể hiện trong mô hình dưới đây (Hình 1.3) Tri thức DẠY HỌC Truyền đạt Lĩnh hội Điều khiển Tự điều khiển Hình 1.
Cấu trúc chức năng của quá trình dạy học Sự phát triển của các hình thức dạy học từ xa gắn liền với sự phát triển của các công nghệ điện tử- viễn thông với các phương tiện như thư tín, phát thanh, truyền hình, máy tính… Trong các dạng đào tạo từ xa sử dụng công nghệ nêu trên, đào tạo từ xa sử dụng máy tính đang chiếm một vai trò quan Vũ Trường Minh - Lớp CHĐT2 – K79 Niên khóa 2007-2009 – ĐHBKHN 16 Luận văn tốt nghiệp trọng trong cuộc sống hiện đại. Cách hình thức dạy học từ xa sử dụng máy tính có thể kể đến bao gồm: • Computer - Based Training (CBT): là hình thức đào tạo độc lập, không kết nối mạng. Do đó, không có những giáo viên tiếp tương tác với thế giới bên ngoài trong quá trình đào tạo. • Online learning/training: Hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện tương tác giữa người học với nhau, giữa người học với giáo viên.
E-Learning: là một khái niệm mới chỉ hình thức đào tạo áp dụng kết hợp các tiến bộ công nghệ, cung cấp cho người tham gia một tập hợp các hình thức đào tạo phong phú như Computer – based, Web – based Training, Virtual classroom (lớp học ảo) và Digital Collaboration (như tivi, video player, CD, Projector,…). Các dịch vụ đào tạo trong e-Learning hoạt động theo 2 cơ chế cơ bản. • Đồng bộ (synchronous): Hành vi đồng bộ là hành vi diễn ra trong thời gian thực (real-time event hoặc live event) - tức là các tương tác được những người tham gia thực hiện trong thời gian thực: Chẳng hạn, các hành vi như Chat (sử dụng các ứng dụng cho phép trao đổi thông điệp trong thời gian thực), sử dụng ứng dụng bảng trắng (Whiteboard - Ứng dụng cho phép những người tham gia có thể trực tiếp cùng vẽ/viết) hay hội thảo Audio-Video đều là các hành vi đồng bộ. Như vậy cơ chế đồng bộ mô phỏng theo một lớp học truyền thống, học viên và giáo viên làm việc với nhau qua mạng thông qua truyền nhận tin tức thời sự hình ảnh, âm thanh và văn bản.
• Bất đồng bộ (Asynchronous): Các tương tác do mọi người tham gia sẽ được thực hiện các thời điểm rời rạc. Học viên có thể học bất cứ lúc nào, nội dung là các bài giảng đã được giáo viên soạn trước hoặc thu lại từ các buổi giảng, học viên giao tiếp với nhau hoặc với giáo viên chủ yếu bằng thư điện tử, bảng tin (Forum hay Bulletin board). Vũ Trường Minh - Lớp CHĐT2 – K79 Niên khóa 2007-2009 – ĐHBKHN 17 Luận văn tốt nghiệp 1. Các dịch vụ E-Learning 1.
Dịch vụ học tập trực tuyến Người học sau khi đăng ký có thể truy cập các nội dung khoá học để học tập. Học viên có thể tải nội dung về máy tính cá nhân hoặc xem trực tiếp trên hệ thống qua trình duyệt web. Những thông tin này thường do người thiết kế và giáo viên đã chọn lọc sẵn, một phần là tài liệu của khoá học, một phần khác là thông tin tham khảo phù hợp cập nhật từ Internet.Dịch vụ tra cứu thông tin Cho phép người sử dụng tìm kiếm thông tin phục vụ việc dạy học. Tài liệu do hệ thống E-Learning cung cấp có thể bao gồm các loại sau: o Giáo trình, bài tập được giao, chương trình học, thời gian biểu o Các bài kiểm tra đã quyam các dự án liên quan tới nội dung học.
o Diễn đàn thảo luận nhóm (Forum trên Web, newgroup…) o Hướng dẫn làm quen và sử dụng các chức năng của E-Learning o Phần mềm tham khảo/thực hành của khoá học liệu hướng dẫn sử dụng kèm tài liệu tham khảo khác từ Internet. o Các website có cùng chủ đề với nội dung học o Những câu hỏi thường gặp (FAQ) liên quan tới chủ đề đang học o Các báo cáo, đặc tả, thống kê liên quan o Phần mềm có liên quan 1.E-mail Đây là công cụ truyền thông quen thuộc với hầu hết tất cả mọi người. Email cho phép người gửi truyền thông điệp kiểu 1-1 tới người nhận. Đây là công cụ hữu hiệu để có thể trao đổi thông tin giữa người học và giáo viên.
Bất tiện của Email là độ tin cậy không cao (có thể mất thư), độ ưu tiên trong xử lý thấp. Vũ Trường Minh - Lớp CHĐT2 – K79 Niên khóa 2007-2009 – ĐHBKHN 18 Luận văn tốt nghiệp 1.Thảo luận nhóm Phương tiện thảo luận nhóm cho phép một nhóm thực hiện những trao đổi trên một nội dung đề tài. Một người tham gia gửi tên về chủ đề muốn trao đổi, sau đó những người quan tâm có thể tiếp tục đóng góp bằng cách trả lời, bình luận,… Phương thức truyền thông của thảo luận nhóm là “Nhiều-nhiều”. Các biến thể của thảo luận nhóm là mailing-list, newsgroup, forum (trên web)… Những ưu điểm chính của thảo luận nhóm là cách tổ chức thông tin liên mạch, dễ theo dõi, cho phép nhiều người cùng tham gia.Chatting Công cụ Chat cho phép nhiều người cùng trao đổi thông tin trực tuyến sử dụng các thông điệp ngắn dạng văn bản.
Người tham gia gửi thông điệp bằng cách gõ vào nội dung cần gửi rồi gửi đi. Phương thức truyền thông sử dụng của Chat là “tất cả - tất cả”. Mọi người trong kênh Chat đều có thể học được thông điệp của bất kỳ một người nào đã gửi đi.