Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo phát triển nông nghiệp nông thôn (1997-2006)

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp nghiên cứu ussh đảng bộ tỉnh bắc giang lãnh đạo phát triển nông nghiệp nông thôn trong những năm 1997 2006, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN BẮC GIANG TRƯỚC NĂM 1997

1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang

1.2. Chủ trương xây dựng nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ Bắc Giang và những thành tựu nông nghiệp trước năm 1997

1.2.1. Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1986

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 1997 - 2006

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ HẠN CHẾ CHÍNH TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN VÀ KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN CỦA ĐẢNG BỘ BẮC GIANG

LỜI CAM ĐOAN

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 1997 2006

Giai đoạn 1997-2006 là thời kỳ quan trọng trong sự phát triển của tỉnh Bắc Giang, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Sau khi tái lập tỉnh, Bắc Giang đã có những bước tiến đáng kể trong việc phát triển nông nghiệp bền vững và cải thiện đời sống của người dân. Các chính sách của Đảng bộ tỉnh đã được triển khai mạnh mẽ, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội của Bắc Giang

Bắc Giang có vị trí địa lý thuận lợi với nhiều tiềm năng về đất đai và khí hậu. Diện tích đất nông nghiệp lớn, cùng với nguồn nước phong phú, tạo điều kiện cho việc phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, dân số nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ cao, đòi hỏi các chính sách phát triển phải chú trọng đến việc nâng cao đời sống người dân.

1.2. Chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh

Chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn này tập trung vào việc cải cách cơ chế quản lý, khuyến khích đầu tư và ứng dụng công nghệ mới. Các chương trình hỗ trợ nông dân được triển khai nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

II. Những thách thức trong phát triển nông nghiệp nông thôn Bắc Giang

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng Bắc Giang vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển nông thôn. Các vấn đề như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và sự thiếu hụt nguồn lực đầu tư là những yếu tố cản trở sự phát triển bền vững. Cần có những giải pháp đồng bộ để giải quyết các vấn đề này.

2.1. Ô nhiễm môi trường và tác động đến nông nghiệp

Ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng đất và nước. Điều này không chỉ làm giảm năng suất cây trồng mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.

2.2. Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

Biến đổi khí hậu đã gây ra những hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Nông dân cần được trang bị kiến thức và công nghệ để thích ứng với những thay đổi này.

III. Phương pháp phát triển nông nghiệp bền vững tại Bắc Giang

Để phát triển nông nghiệp bền vững, Bắc Giang đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp hiệu quả. Việc áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và tăng cường liên kết giữa các hộ nông dân là những yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển.

3.1. Ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp

Việc ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp đã giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Các mô hình sản xuất hiện đại được triển khai, từ đó tạo ra sản phẩm nông sản an toàn và chất lượng cao.

3.2. Tăng cường liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp

Liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp. Các hợp tác xã được thành lập nhằm hỗ trợ nông dân trong việc tiêu thụ sản phẩm và tiếp cận thị trường.

IV. Kết quả đạt được trong phát triển nông nghiệp nông thôn Bắc Giang

Giai đoạn 1997-2006, Bắc Giang đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển nông nghiệp nông thôn. Năng suất cây trồng và vật nuôi tăng lên đáng kể, đời sống của người dân được cải thiện. Các sản phẩm nông sản của tỉnh đã có mặt trên thị trường trong và ngoài nước.

4.1. Tăng trưởng kinh tế nông thôn

Tăng trưởng kinh tế nông thôn đã góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của tỉnh. Nhiều mô hình sản xuất hiệu quả đã được nhân rộng, tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân.

4.2. Cải thiện đời sống người dân nông thôn

Đời sống của người dân nông thôn đã được cải thiện rõ rệt nhờ vào các chính sách hỗ trợ và phát triển kinh tế. Tỷ lệ hộ nghèo giảm, nhiều gia đình đã có điều kiện sống tốt hơn.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho nông nghiệp Bắc Giang

Kết thúc giai đoạn 1997-2006, Bắc Giang đã có những bước tiến quan trọng trong phát triển nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên, để tiếp tục phát triển bền vững, cần có những chiến lược dài hạn và đồng bộ hơn. Việc đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường là những yếu tố then chốt.

5.1. Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững

Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững cần tập trung vào việc bảo vệ môi trường và phát triển nguồn nhân lực. Các chính sách cần được điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế.

5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển nông nghiệp

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ giúp Bắc Giang tiếp cận công nghệ mới và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Các chương trình hợp tác cần được triển khai mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Đặc điểm, tình hình nông nghiệp, nông thôn Bắc Giang trước năm 1997 Chương 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1997 - 2006 Chương 3: Một số hạn chế chính trong phát triển nông nghiệp – nông thôn và kinh nghiệm lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ Bắc Giang 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ch−¬ng 1 ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN BẮC GIANG TRƯỚC NĂM 1997 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang Bắc Giang là một miền đất cổ, có truyền thống lịch sử gắn bó cùng với cả nước trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Kể từ khi Thục Phán sáng lập nước Âu Lạc, kế tục nước Văn Lang của Vua Hùng, vùng đất này đã xuất hiện trên bản đồ đất nước. Qua các thời kỳ lịch sử, tỉnh Bắc Giang ngày nay đã có nhiều tên gọi và địa giới hành chính khác nhau. Do yêu cầu của lịch sử cũng như về kinh tế - xã hội, tỉnh Bắc Giang đã trải qua nhiều lần sáp nhập và chia tách với Bắc Ninh.

Năm 1962, theo quyết định của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh được sáp nhập thành tỉnh Hà Bắc, tỉnh lỵ đóng ở thị xã Bắc Giang. Đến Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc (khoá IX), kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX (tháng 4/1996 tới tháng 11/1996) đã quyết định chia tỉnh Hà Bắc thành 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh. Như vậy, sau gần 34 năm hợp nhất tỉnh Bắc Giang được tái lập lại và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997, mở ra một giai đoạn mới trong quá trình phát triển của tỉnh. Bắc Giang là một tỉnh miền núi có diện tích là 3.822 km2 với dân số (năm 2005) là 1.563,9 nghìn người, đứng thứ 33 về diện tích và thứ 15 về dân số trong 63 tỉnh, thành phố cả nước.

Tỉnh Bắc Giang có 9 huyện và 1 thành phố. Phía Bắc và Đông Bắc giáp với Lạng Sơn; phía Tây và Tây Bắc giáp với Thái Nguyên; phía Nam và Tây Nam giáp Hải Dương, Bắc Ninh và thành phố Hà Nội; phía Đông giáp Quảng Ninh. Bắc Giang có một số trục giao thông quan trọng của quốc gia chạy qua như đường quốc lộ 1A, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn… và nằm không xa các 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung tâm công nghiệp, đô thị lớn của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Thành phố Bắc Giang cách thủ đô Hà Nội khoảng 50km và cách cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng, Tân Thanh khoảng 90 – 100km.

Vị trí địa lý đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho Bắc Giang trong phát triển kinh tế liên vùng, giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, các tỉnh Đông bắc Việt Nam và với các tỉnh của Trung Quốc. Cũng nhờ vị trí địa lý đó, Bắc Giang có thể phát huy lợi thế sẵn có của một tỉnh nhiều tiềm năng về đất, rừng và nguồn lực con người, đưa lãnh thổ này trở thành một đầu mối kinh tế quan trọng nối khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng, Lạng Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và các tỉnh ở Đông bắc nước ta. Địa hình Bắc Giang khá độc đáo, là tụ điểm cuối cùng của các cánh cung Ngân Sơn, Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều và cũng là khởi điểm trong “dải đất chuyển tiếp bắc Châu thổ” [32, tr. Phía Đông nghiêng 300 – 500m, vùng núi phía Tây bắc (phía Bắc huyện Yên Thế) là chân của đồi núi thuộc địa phận Thái Nguyên đã thoải dần xuống phía Nam.

Khu vực này không có núi cao như phía Đông của tỉnh mà hầu hết là những đồi tròn có độ cao từ 100 – 200m, thấp dần xuống phía nam thành miền núi thấp trung du của Bắc Giang với độ dốc phổ biến dưới 50m. Vùng trung du chủ yếu là đồi thấp xen kẽ với đồng bằng có độ cao trung bình dưới 100m gồm thành phố Bắc Giang, một phần huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Tân Yên bị cắt xẻ. Đây là khu vực thuận lợi để phát triển cây ăn quả cũng như các cây lâu năm. Vùng đồng bằng phù sa cổ ven sông Cầu, sông Thương… thuộc địa phận các huyện Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hoà, Yên Dũng, Lạng Giang không chỉ là địa bàn của cây lúa mà còn là nơi thuận lợi cho việc trồng một số cây ăn quả mũi nhọn của tỉnh.

Như vậy, địa hình đa dạng đã tạo điều kiện để Bắc Giang 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển nông lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá với nhiều cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá phong phú, đáp ứng nhu cầu thị trường. Khí hậu Bắc Giang cũng mang những đặc trưng chuyển tiếp, vừa có tính chất nhiệt đới nóng ẩm, vừa có tính chất á nhiệt đới. Nhiệt độ bình quân hàng năm là 23oC, lượng mưa trung bình là 1.700mm, đáp ứng nhu cầu trồng trọt nhiều vụ trong năm. Bắc Giang nằm sâu trong đất liền nên những cơn bão và áp thấp nhiệt đới từ biển Đông chuyển vào đã bị núi rừng chặn bớt, ít gây tác hại.

Như vậy, cùng với địa hình, khí hậu Bắc Giang đã tạo ra nhiều thuận lợi cho một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng về cơ cấu cây trồng và vật nuôi. Bắc Giang còn có nguồn tài nguyên đất đai lớn với hai nhóm đất chính là nhóm phát sinh tại chỗ do quá trình phong hoá hình thành và nhóm đất bồi tích do quá trình bồi tụ phù sa hình thành. Đất feralit màu vàng, đỏ vàng thuộc vùng gò đồi phát triển trên đá phiến sét, phiến sa và biến chất. Loại đất này phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế rất thích hợp với cây công nghiệp (chè), cây ăn quả (vải thiều, nhãn, na, cam…).

Đất phù sa cổ phân bố ở Sơn Động, Yên Thế, phù hợp với việc canh tác cây lương thực, thực phẩm. Ngoài ra, ở tỉnh Bắc Giang diện tích đất đai chưa sử dụng còn rất lớn, khoảng 80 – 90 nghìn ha, trong đó đất có khả năng nông nghiệp khoảng 4,2 nghìn ha, đất có khả năng lâm nghiệp khoảng 70,5 nghìn ha còn lại đất cho các mục đích khác (công nghiệp, du lịch, xây dựng đô thị). Về mặt xã hội, Bắc Giang là nơi hội tụ của cư dân gần 20 tỉnh thành trong cả nước với nhiều dân tộc anh em cùng chung sống. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số, khoảng 87,9% còn lại là dân tộc Nùng, Tày, Sán chỉ, Cao Lan, Dao, Hoa.

Người Kinh sống tập trung ở các huyện trung du. Các dân tộc thiểu số sống chủ yếu ở các huyện miền núi. Người Sán Dìu tập trung ở 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lục Nam, Lục Ngạn; người Cao Lan – Sán Chí ở Lục Ngạn, Sơn Động, Yên Thế, người Dao rải rác ở các huyện miền núi. Nhiều nơi, đồng bào xen canh xen cư trong từng cộng đồng làng bản.

Người Bắc Giang có cuộc sống tinh thần phong phú, đa dạng: hát quan họ cổ ở Việt Yên, hát ví hát chèo phổ biến trong tỉnh. Đồng bào dân tộc thiểu số có dân ca riêng của mình như hát soong hao, sli, lượn, soong cô… Vào dịp sang xuân hoặc lập thu, có rất nhiều lễ hội được tổ chức: hội đền Hả (Lục Ngạn), hội chùa Bổ Đà, hội nghè Nếnh (Việt Yên), hội Đa Mai (thành phố Bắc Giang)… Lễ hội dân gian gắn liền với tục cầu mưa, cầu mùa màng tươi tốt, cầu cuộc sống bình yên. Lễ hội có phần lễ gắn với liền với cúng tế thần linh, phần hội có rước kiệu, vật, bơi chải, chạy chữ… Niềm cộng cảm của làng quê trong ngày hội được nâng cao, cá nhân và cộng đồng, địa phương và khu vực hoà nhập vào nhau vừa thế tục vừa thiêng liêng, góp phần gắn kết cộng đồng làng và liên làng. Làng quê Bắc Giang có tục kết chạ - một liên làng đặc biệt, tạo thế liên kết các làng cùng nhau chia sẻ niềm vui, giao lưu văn hoá, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn [37, tr.

Ở các làng quê thường có đình, đền, chùa, là nơi sinh hoạt của cộng đồng thôn xóm để bàn luận việc nước, việc làng và để tiến hành lễ hội. Tuy nhiều đình, chùa, đền miếu nhưng con người Bắc Giang không mang tính thần bí mà đậm đà tính nhân văn thấm sâu trong từng câu ví, điệu chèo, trong các hình tượng điêu khắc. Tốc độ tăng dân số của Bắc Giang trong mấy thập kỷ qua khá cao, từ khoảng 2% đến 3% [37, tr. Vào thập kỷ 90, công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình được đẩy mạnh nên tỷ lệ phát triển dân số đã được hạ xuống còn 1,60% (năm 1997).

Trong cơ cấu Bắc Giang, dân số nông thôn chiếm tỷ lệ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong thập kỷ 90, cơ cấu dân số đang có những chuyển biến theo sự chuyển dịch của cơ cấu theo hướng CNH, HĐH. Kết cấu dân cư nhiều thành phần dân tộc đã tạo cho Bắc Giang có một truyền thống văn hoá vừa phong phú vừa đa dạng, đặc biệt là trong truyền thống, phong tục canh tác khiến cho nông nghiệp Bắc Giang mang nhiều màu sắc, phong thái hơn. Như vậy, với những đặc điểm về tự nhiên và xã hội, Bắc Giang đã có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp đa dạng và phong phú.

Trên thực tế, nông nghiệp của Bắc Giang có một vị trí quan trọng đối với kinh tế cả nước nói chung và kinh tế Bắc Giang nói riêng. Đặc biệt là từ khi tái lập tỉnh cho tới nay, nền kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển biến tích cực, mở ra một thời kỳ phát triển mới của tỉnh Bắc Giang.2 Chủ trương xây dựng nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ Bắc Giang và những thành tựu nông nghiệp trước năm 1997 1.1 Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1986 Sau thắng lợi mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước độc lập thống nhất và đi lên chủ nghĩ xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ