Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững. Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo xu hƣớng bền vững ở nƣớc ta. Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp để phát triển nông nghiệp theo xu hƣớng bền vững ở nƣớc ta. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 1.Khái quát chung về phát triển bền vững 1.1 Khái niệm về phát triển bền vững Hiện nay loài ngƣời đang đứng trƣớc những thách thức to lớn về sự sống còn của con ngƣời do sự phá huỷ môi trƣờng và tình trạng khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Muốn vƣợt qua những thách thức đó, không còn cách nào khác là phải xây dựng và thực hiện một chiến lƣợc phát triển mới, mang tính dài hạn, là con đƣờng phát triển tất yếu của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Chiến lƣợc đó phải đảm bảo thực hiện đƣợc 3 mục tiêu cơ bản: mục tiêu kinh tế; mục tiêu xã hội, nhân văn; mục tiêu sinh thái, môi trƣờng. Thực hiện đƣợc yêu cầu đó sẽ là bƣớc phát triển cao hơn về nhận thức của con ngƣời, là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững mối quan hệ giữa con ngƣời - xã hội - tự nhiên. Phát triển bền vững vì thế trở thành vấn đề bức xúc của nhiều quốc gia, sự quan tâm của nhiều nhà khoa học hiện nay trên thế giới.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa hay khái niệm về phát triển bền vững. Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lƣợc bảo tồn thế giới (Công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Khái niệm phát triển bền vững đƣợc chính thức đƣa ra vào năm 1987 trong Báo cáo của Uỷ ban môi trƣờng và phát triển của Ngân hàng thế giới. Báo cáo này ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” [5, Tr 12].
Đây là một định nghĩa hết sức ngắn gọn, dễ hiểu: bền vững là sự phát 8 triển ngày hôm nay không làm ảnh hƣởng đến sự phát triển ngày mai. Bền vững là ngày 9 hôm nay đƣợc hƣởng lợi ích nhƣ thế nào thì thế hệ ngày mai cũng đƣợc hƣởng lợi ích nhƣ vậy. Vậy phát triển bền vững không chỉ đơn thuần là tăng trƣởng kinh tế, phát triển xã hội, mà bao gồm cả bảo vệ môi trƣờng, các mặt này cần phải hài hoà và thúc đẩy kinh tế phát triển. Đây là bƣớc ngoặt của sự phát triển về nhận thức của con ngƣời trƣớc những biến đổi của thực tiễn tự nhiên, phƣơng thức sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội cũng nhƣ trình độ phát triển trí tuệ của con ngƣời.
Sự hình thành lý thuyết về phát triển bền vững Phát triển là quy luật chung của mọi thời đại, của tất cả các quốc gia. Tăng trƣởng kinh tế và cải thiện mức sống xã hội là mục tiêu trọng tâm của tất cả các chính phủ. Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế nhanh chóng thì môi trƣờng thiên nhiên của chúng ta cũng đang bị tàn phá nghiêm trọng. Nếu chúng ta tiếp tục theo đuổi mục tiêu tăng trƣởng kinh tế bằng việc nạo vét tài nguyên, tiêu dùng hoang phí, chất thải đƣợc đƣa vào môi trƣờng tự nhiên quá mức thì rõ ràng chúng ta sẽ không đạt đƣợc các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Thế giới đòi hỏi sự phát triển phải đảm bảo sự hài hoà giữa con ngƣời với con ngƣời, con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên. Đây là cơ sở khách quan cho sự hình thành tƣ duy lý thuyết mới về sự phát triển của nhân loại - tƣ duy lý thuyết về phát triển bền vững đảm bảo tƣơng lai cho tất cả các dân tộc trên thế giới, nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời, các tƣ tƣởng về sự phát triển hài hoà với tự nhiên, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đã xuất hiện rất sớm. Các nhà triết học cổ đại Hy Lạp, La Mã, các triết gia phƣơng Đông … đều đề cập vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau.
Bƣớc sang thế kỷ XIX các nhà kinh tế học nhƣ Malthus, D.Ricardo đều có chung quan điểm với các nhà bảo vệ môi trƣờng đầu tiên ở châu Âu, châu Mỹ và tất cả họ đều cho rằng: cần sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Cho đến đầu thế kỷ XX, Uỷ ban bảo vệ môi trƣờng Canada (năm 1915) đã đƣa ra quan điểm cho rằng: mỗi thế hệ có quyền khai thác lợi ích từ nguồn vốn thiên nhiên, nhƣng nguồn vốn này phải đƣợc duy trì nguyên vẹn cho thế hệ tƣơng lai để họ hƣởng thụ và sử dụng theo một cách thức tƣơng tự. 1 Tuy nhiên, phải đến những năm 1970, khi Maurice Strong tổ chức hội thảo với chủ đề “Phát triển và môi trường” (6-1971) thì những vấn đề về phát triển bền vững bắt đầu thu hút đƣợc sự quan tâm của các học giả trên thế giới. Tƣ tƣởng về phát triển gắn với bảo vệ môi trƣờng ngày càng nhận đƣợc sự ủng hộ rộng rãi và nó đã loại bỏ các tƣ tƣởng về phát triển không quan tâm tới môi trƣờng.
Tháng 6-1972, Tuyên bố Stockholm về “môi trường con người” đã khẳng định: “Bảo vệ và cải thiện môi trƣờng con ngƣời là vấn đề lớn có ảnh hƣởng tới phúc lợi của mọi dân tộc và phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Đó là khao khát khẩn cấp của các dân tộc trên khắp thế giới và nhiệm vụ của mọi chính phủ”. Trải qua một quá trình phát triển, các tƣ tƣởng về phát triển bền vững dần dần đƣợc khái quát rõ nét hơn. Thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên đƣợc sử dụng trong “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới phát hành.
Chiến lƣợc này cho rằng muốn phát triền bền vững cần tính đến những yếu tố kinh tế - xã hội - môi trƣờng. Năm 1981 Robert Riddell đã mô tả phát triển bền vững gồm 3 yếu tố đặc trƣng: bình đẳng kinh tế, hài hoà xã hội, môi trƣờng cân bằng. Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Uỷ ban Môi trƣờng và Phát triển của Ngân hàng thế giới thuật ngữ phát triển bền vững chính thức đƣợc định nghĩa. Cho đến đây các lý thuyết về phát triển bền vững đã đƣợc hình thành và đã đạt đƣợc nhiều sự đồng thuận từ phía các quốc gia, các tổ chức môi trƣờng cũng nhƣ quan điểm của các nhà khoa học trên thế giới.
Tiếp tục phát triển các tƣ tƣởng về phát triển bền vững năm 1992, Liên Hợp Quốc tổ chức cuộc Hội thảo về “Môi trƣờng và Phát triển” tại Rio de Janeiro. Hội nghị này đƣa ra các văn kiện có tầm thế giới, với việc tuyên bố 27 nguyên tắc và thông qua Chƣơng trình nghị sự 21. Chƣơng trình nghị sự 21 đã đề ra chƣơng trình khung phù hợp với phát triển bền vững. Tháng 9-2002, Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Nam Phi lần đầu tiên lấy tên “Phát triển bền vững”.
Điều đó khẳng định phát triển bền vững đã trở thành trào lƣu của toàn thế giới. Tuyên bố Johannesburg về 1 phát triển bền vững năm 2002: thiết lập cam kết của các chính phủ cũng nhƣ trên 1 toàn thế giới, nhằm thực hiện kế hoạch Johannesburg. Nội dung của kế hoạch là nỗ lực thúc đẩy quá trình lồng ghép phát triển kinh tế, công bằng xã hội, bảo vệ môi trƣờng, xem nhƣ là ba trụ cột phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau cùng phát triển bền vững. Phát triển nền nông nghiệp theo xu hƣớng bền vững 1.
Khái niệm nông nghiệp phát triển bền vững Xu hƣớng phát triển nông nghiệp bền vững xuất hiện và đƣợc nhiều nƣớc áp dụng đã đem lại những hiệu quả nhất định trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng. Tuy nhiên khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững mới bắt đầu xuất hiện trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX. Theo định nghĩa của TAC/CGIARC (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc): Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên thiên nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của con ngƣời đồng thời cải tiến chất lƣợng môi trƣờng và gìn giữ đƣợc tài nguyên thiên nhiên. Năm 1991, nhóm hoạt động về vấn đề lƣơng thực thuộc Uỷ ban Hợp tác của các tổ chức phát triển Phi chính phủ (NGDOs) ở Cộng đồng châu Âu thống nhất đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: Nông nghiệp bền vững đƣợc thiết lập nhằm đáp ứng cả nhu cầu của ngƣời dân cũng nhƣ các mặt hạn chế về tự nhiên và điều kiện sinh thái ở một vùng xác định.
Mục đích là đƣa năng suất cây trồng lên mức cao trên cơ sở bền vững và lâu dài mà không huỷ hoại môi trƣờng sống. Cần ƣu tiên xác định và phát triển các nguồn tài nguyên sẵn có ở địa phƣơng nhƣ nguồn lực lao động, nƣớc, dinh dƣỡng… hơn là dựa vào các nguồn đầu tƣ từ bên ngoài. Điều này không bao gồm việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp từ các nguồn bên ngoài nhƣng cần giảm thiểu mức độ của nó để nó không làm tổn hại đến môi trƣờng tự nhiên cũng nhƣ sức khoẻ và điều kiện kinh tế của cộng đồng. Nông nghiệp chỉ thực sự bền vững khi khía cạnh xã hội và văn hoá của những ngƣời sử dụng và thụ hƣởng đƣợc tập trung một cách đầy đủ và các quyết định đều do họ thực hiện.
Theo Tổ chức về môi trƣờng sinh thái thế giới (WOED) đã định nghĩa 1 nông nghiệp bền vững nhƣ sau: nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thoả mãn 1 đƣợc các nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau. Ở Việt Nam nghiên cứu về phát triển bền vững bắt đầu đƣợc nghiên cứu từ khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Thể hiện cụ thể nhất là quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17-8-2004 của Thủ tƣớng chính phủ ban hành Định hƣớng chiến lƣợc phát triển bền vững ở Việt Nam (Chƣơng trình nghị sự 21 của Việt Nam).