Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Chương 2: Thực trạng truyền thông chính sách của Báo Tiếng nói Việt Nam Chương 3: Giải pháp phát triển nội dung truyền thông chính sách trên Báo Tiếng nói Việt Nam 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm liên quan tới đề án 1.1 Khái niệm về chính sách "Chính sách" bao gồm chính sách công (là những chính sách do các cơ quan công quyền ban hành, phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng lớn) và chính sách của các tổ chức, doanh nghiệp để phục vụ cho lợi ích của tổ chức, doanh nghiệp đó [14]. Trong phạm vi đề án nghiên cứu này, tác giả lựa chọn áp dụng khái niệm chính sách ở tầm vĩ mô (hay còn gọi là chính sách công), đó là chính sách do các cơ quan quản lý Nhà nước ban hành với người thực thi và thụ hưởng là công chúng, nhân dân trong cả nước. Cố Giáo sư William N.
Dunn cho rằng: "Chính sách công là sự kết hợp phức tạp các lựa chọn liên quan với nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra" [17, tr. Quan điểm của William N. Dunn cho rằng, chính sách công là các quyết định của chính phủ bao gồm cả quyết định hành động và quyết định không hành động. Giáo sư William Jenkin (học giả Mỹ) nhấn mạnh: "Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt được các mục tiêu đó" [16, tr.
Như vậy, quan niệm chung của các chuyên gia nước ngoài đều khẳng định chính sách công là các hoạt động của Nhà nước, Chính phủ, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến người dân. Một số quan niệm nhấn mạnh thêm chính sách công có tính chính trị, bởi nó là tập hợp quyết định lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt được mục tiêu trong một khoảng thời gian dài của các nhà chính trị trong hệ thống chính trị và tiến trình chính trị. 7 Các nhà nghiên cứu trong nước cũng đưa ra những quan điểm rõ ràng về chính sách công. Theo định nghĩa của tác giả Lê Văn Chiến thì chính sách công là công cụ cơ bản để nhà nước điều hành định hướng phát triển và theo đuổi lợi ích chung của xã hội [6, tr.
Tác giả Lê Chi Mai cho rằng "Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình" [10, tr. Từ các định nghĩa vừa nêu, tác giả đề án ghi nhận khái niệm chung về "chính sách công" như sau: Chính sách công là chính sách do cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy công quyền ban hành và thực thi. Đây là tập hợp các quyết định liên quan đến nhau về việc có hành động hay không hành động, lựa chọn "hành động" hay "không hành động" đều có thể có những ảnh hưởng quan trọng đối với người dân và xã hội. Chính sách công gắn với hành động có mục đích chứ không phải hành vi hay hoạt động xảy ra ngẫu nhiên, gắn với các hành động tương đối ổn định.
Trong quản lý nhà nước, Nhà nước sử dụng chính sách công làm công cụ chủ yếu để giải quyết những vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định. Vì vậy, chính sách công có vai trò định hướng - thể hiện rõ xu hướng tác động của nhà nước lên các thực thể xã hội để chúng vận động phù hợp với những giá trị tương lai mà nhà nước theo đuổi. Khái niệm về truyền thông Theo giáo trình Truyền thông đại chúng do tác giả Tạ Ngọc Tấn chủ biên, thì truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau. 8 Khi phân tích các mối quan hệ trong hoạt động truyền thông của con người, có thể thấy đây là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian trong đó bắt buộc phải có các yếu tố tham dự gồm: nguồn phát, thông điệp, kênh phát và đối tượng tiếp nhận.
Nguồn phát là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông. Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Kênh truyền thông là sự thống nhất của phương tiện, con đường, cách thức truyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Đối tượng tiếp nhận là các cá thể hay tập thể người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông.
Trong quá trình truyền thông nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, xen lẫn vào nhau. Tuy nhiên, theo trình tự thời gian thì nguồn phát bao giờ cũng thực hiện hành vi truyền thông trước Truyền thông có vai trò vô cùng quan trọng, là một trong những yếu tố hàng đầu làm cho con người tự nhiên trở thành con người xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển không ngừng. Các phương tiện thông tin đại chúng trở thành người điều khiển quá trình giao tiếp mang tính xã hội rộng rãi. Như vậy "truyền thông đại chúng là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi thông qua các phương tiện thông tin đại chúng" [11, tr.
Khái niệm truyền thông chính sách Theo "Báo cáo về truyền thông chính sách" năm 2022 của Bộ Thông tin và Truyền thông, "truyền thông chính sách" (ở một số quốc gia, tổ chức gọi là "truyền thông Chính phủ" hoặc "truyền thông chính sách công") có thể 9 được định nghĩa là tất cả các hoạt động của chính quyền và tổ chức trong khu vực công nhằm chuyển tải và chia sẻ thông tin, chủ yếu nhằm mục đích tạo ra văn hóa công khai thông tin, đồng thời trình bày và giải thích các quyết định và hành động của Chính phủ [1, tr. Từ các nghiên cứu, khảo sát đã thực hiện ở trong nước và tham khảo một số mô hình quốc tế, có thể tạm xác định lực lượng truyền thông chính sách của Chính phủ là các tổ chức đơn vị, con người làm công tác truyền thông tại các bộ, ngành, tỉnh thành phố trực thuộc trung ương [1, tr. 2] với nhiệm vụ cung cấp cho người dân các thông tin về công việc của chính quyền, giải thích các chính sách, giải quyết các vấn đề khủng hoảng truyền thông tại tổ chức đơn vị của mình. Ở nước ta, công tác truyền thông các chủ trương, đường lối, chính sách hiện nay được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng với phương châm truyền thông luôn phải đi trước để thống nhất nhận thức, tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội, kịp thời phát hiện và xử lý hiệu quả đối với những xu hướng thông tin sai lệch bản chất, không có lợi cho sự phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu về truyền thông chính sách thời gian qua, một số vấn đề cũng đã nảy sinh trong cách thức tổ chức lực lượng và đầu tư nguồn lực cho công tác này, dẫn đến nhiều tình huống một số cơ quan nhà nước còn bị động, lúng túng trong việc chủ động cung cấp thông tin chính sách hoặc thực hiện công việc này chưa thật sự hiệu quả. Trong tham luận "Truyền thông chính sách ở Việt Nam hiện nay: cơ hội và thách thức", tác giả Tạ Ngọc Tấn nêu rõ: "Truyền thông chính sách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với khả năng thành công của chính sách, hơn thế nữa, đối với cả sự ổn định chính trị xã hội, sự bền vững của chế độ chính trị" [12, tr. 10 Theo nghiên cứu "Khảo sát năng lực truyền thông chính sách từ năng lực truyền thông của nhà báo đến năng lực tiếp nhận của công chúng" của tác giả Vũ Thanh Vân thì truyền thông chính sách là chủ đề được tiếp cận trong cả lĩnh vực nghiên cứu và thực tiễn. Chủ đề này thường được tiếp cận trên 3 bình diện: chủ đề truyền thông chính sách, phương tiện truyền thông chính sách và công chúng truyền thông chính sách.
Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, giới nghiên cứu và giới thực hành ngày càng quan tâm hơn đến các mô hình truyền thông chính sách ứng dụng công nghệ. Công nghệ trở thành cầu nối giữa chủ thể truyền thông và công chúng rút ngắn khoảng cách thời gian và không gian. Từ những quan điểm này, có thể đánh giá, truyền thông chính sách luôn đóng vai trò quan trọng trên các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và trên các phương tiện báo chí tại Việt Nam nói riêng. Do sự thay đổi của đời sống xã hội cùng với những tiến bộ khoa học công nghệ, yêu cầu đối với truyền thông chính sách trên báo chí ngày càng đòi hỏi sự linh hoạt, hiện đại, hiệu quả và khả năng tương tác với đối tượng tiếp nhận thông tin cao hơn.
Cơ sở thực tiễn Truyền thông chính sách là một trong những nhiệm vụ quan trọng của báo chí. Theo Khoản 2, Điều 4 về Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí, Luật Báo chí (sửa đổi) 2018, báo chí có nhiệm vụ và quyền hạn đưa những thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân. Đồng thời, báo chí cũng có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí. Góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng 11 cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đài Tiếng nói Việt Nam (viết tắt bằng tiếng Việt là Đài TNVN) có tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là: Voice of Vietnam - VOV là cơ quan truyền thông trực thuộc Chính phủ. Đài Tiếng nói Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động báo chí, tần số và truyền dẫn, phát sóng phát thanh. Đài Tiếng nói Việt Nam có nhiệm vụ "tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nhằm góp phần nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân".