CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TĂNG TRƯỞNG XANH 1. Tổng quan tài liệu 1. Nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực Ngân hàng thế giới (World Bank) đã tiến hành nhiều cuộc điều tra về nhân lực dưới nhiều góc độ tại rất nhiều quốc gia trên thế giới. Trang web của World Bank có thể cung cấp cho chúng ta rất nhiều tài liệu về nguồn nhân lực, trong đó có một số ấn phẩm đáng chú ý như Meeting human resources needs (Đáp ứng các nhu cầu về nguồn nhân lực) của Karen Lashman; Human resources for health policies:a critical component in health policies (Nguồn nhân lực cho chính sách về sức khỏe: một nhân tố thiết yếu trong các chính sách về sức khỏe) của Gilles Dussault và Carl-Ardy Dubois; Managing human resources in a decentralized context (Quản lý nguồn nhân lực trong bối cảnh phi tập trung hóa) của tác giả Amanda E.
Green; và ngay cả tờ tạp chí của tổ chức này The World Bank Economic Review cũng là một ấn phẩm có đăng tải rất nhiều bài viết về vấn đề nguồn nhân lực. Các tác phẩm này đều phân tích vai trò của nguồn nhân lực với phát triển kinh tế - xã hội theo các khía cạnh khác nhau. Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng rất quan tâm tới vấn đề nguồn nhân lực, thể hiện bằng một loạt các công trình nghiên cứu đã được xuất bản như: Toward a system of human resources indicators for less developed countries (Hướng đến hệ thống chỉ báo nguồn nhân lực cho các nước kém phát triển) của Zymunt Gostkowski giới thiệu một dự án của UNESCO nghiên cứu về nguồn nhân lực, đưa ra các chỉ số cho việc nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực và quan hệ giữa nguồn nhân lực với phát triển kinh tế ở các nước chậm phát triển. Một công trình khác, Educational planning and human resource development (Kế hoạch giáo dục và phát triển nguồn nhân lực) của F.
Công trình này được coi là một trong những bộ bách khoa toàn thư của UNESCO, trình bày các quan điểm hiện đại về kế hoạch hóa và quản lý giáo dục, nguồn nhân lực, dùng phương pháp hệ thống để phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực ở các nước đang phát triển. 10 Khung mẫu mới về phát triển nguồn nhân lực: các sáng kiến của chính phủ để phát triển kinh tế để hội nhập xã hội tại Hàn Quốc. Trong cuốn sách này tác giả Jang Ho Kim đã đưa ra định hướng phát triển, nghiên cứu và phân tích sâu về các vấn đề giáo dục và đào tạo nghề, kết hợp đào tạo với nghiên cứu phát triển, những vấn đề về xây dựng xã hội học tập ở Hàn Quốc nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước (Jang Ho Kim, 2005). Cuốn sách “Chuyển hóa nguồn nhân lực” của William J.Prescott và Maria W.
Cuốn sách là tài liệu tham khảo quý, cung cấp cho tác giả luận án cơ sở khoa học để luận giải con người là tài sản quý giá nhất của mỗi quốc gia, dân tộc. Để phát huy nhân tố con người cần coi trọng các nội dung: cơ cấu tổ chức, hệ thống kế hoạch và kiểm soát, quản lý nguồn nhân lực, xây dựng chính sách tuyển dụng nhân lực, đào tạo và phát triển nghề nghiệp cho nhân lực. Nghiên cứu về sự phát triển của ngành năng lượng tái tạo NLTT được xem là ngành năng lượng bền vững với khả năng cạnh tranh ổn định, trở thành cơ sở quan trọng để chuyển đổi năng lượng toàn cầu, gồm: Năng lượng gió trên bờ, quang điện mặt trời, năng lượng gió ngoài khơi, năng lượng mặt trời, thủy điện, địa nhiệt và năng lượng sinh học (IRENA&ADFD, 2020). Vương quốc Anh là một trong những quốc gia ở châu Âu chuyển đổi mạnh từ năng lượng truyền thống sang NLTT với các chính sách chuyển đổi, ưu tiên đầu tư được ban hành từ năm 2007 với sự phát hành Sách trắng về năng lượng tại Hội nghị thách thức năng lượng.
Kết quả chuyển đổi ở Anh đã góp phần nâng tỷ trọng của ngành tăng không ngừng từ 5,2% năm 2013 lên gần 8% năm 2017 trong tổng mức tiêu thụ năng lượng; trong đó, điện gió đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng của ngành với công suất đạt gần 30 nghìn GWh (UK, 2015). Trung Quốc khẳng định sẽ thúc đẩy một cuộc cách mạng trong sản xuất và tiêu thụ năng lượng. Các kế hoạch của đất nước nhấn mạnh việc chuyển đổi phát triển kinh tế từ tăng trưởng cao sang tăng trưởng chất lượng cao, một sự thay đổi mô hình cũng áp dụng cho ngành năng lượng. Kết quả đến năm 2019, trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu thế giới về đầu tư NLTT, 70% tổng kinh phí đầu tư vào năng lượng năm 2018 là dành cho lĩnh vực NLTT, khoảng 120 tỷ USD (tài liệu trung quốc).
Về vấn đề tạo việc làm, năm 2019 số lượng việc làm từ ngành NLTT của Trung Quốc chiếm 39% toàn cầu, 11 trong đó: 2,8 triệu việc làm từ năng lượng mặt trời; 510 nghìn việc làm từ ngành điện gió (CNREC, 2019; Ni Chunchun, 2009). Nghiên cứu về việc làm, nguồn nhân lực từ ngành năng lượng tái tạo Năng lượng tái tạo và việc phát triển nguồn nhân lực có mối quan hệ rất mật thiết và phụ thuộc với nhau (Angheluță, Margina, Zaharia, & Arionesei, 2014), việc phát triển năng lượng nói chung và chuyển dịch NL nói riêng luôn gắn với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực. Sự đa dạng hóa chuỗi cung ứng đã mở rộng phạm vi địa lý của nhiều quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng mở rộng. Ngành NLTT đang sử dụng ít nhất 11 triệu người trên toàn thế giới, với nhiều quốc gia sản xuất, kinh doanh và lắp đặt các công nghệ năng lượng tái tạo mỗi năm; số liệu này tăng khoảng 0,7 triệu việc làm so với năm 2017 (IRENA, 2019; IRENA, 2018; IRENA, 2017).
Quốc gia có số việc làm liên quan đến ngành NLTT lớn nhất toàn cầu là Trung Quốc chiếm tỷ lệ; tiếp theo là Liên minh châu Âu và Brazil. Phân tích của Cơ quan NLTT quốc tế, cho thấy việc làm trong lĩnh vực NLTT có thể tăng từ 10,3 triệu trong năm 2017 lên 23,6 triệu vào năm 2030 và 28,8 triệu vào năm 2050 (IRENA, 2019). Việc làm từ NLTT đang dần dịch chuyển sang các khu vực khác, chủ yếu sang các quốc gia châu Á, nhất là phân khúc sản xuất và lắp đặt của chuỗi giá trị; năng lượng quang điện mặt trời, năng lượng gió vẫn là công nghệ tái tạo được chú trọng. Sự chuyển đổi năng lượng toàn cầu đòi hỏi các kỹ năng nghề nghiệp cần chuyển đổi cho phù hợp (kỹ thuật, kinh doanh, hành chính, kinh tế và pháp lý).
Thúc đẩy các dịch vụ việc làm; triển khai các biện pháp để đảm bảo phân phối đồng đều các cơ hội chuyển đổi việc làm (Ledec et al. Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực Cuốn sách “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của Đoàn Văn Khái. Tác giả cuốn sách đã luận giải một cách khá sâu sắc về đặc trưng, sức mạnh của nguồn lực con người và vai trò của nó trong quan hệ với các nguồn lực khác; chỉ rõ các tiêu chí căn bản về chất 7 lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH gồm: trí tuệ, sức khỏe và phẩm chất đạo đức, tinh thần người lao động. Cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá trị trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực khoa học công nghệ nói riêng (Đoàn Văn Khái, 2005).
12 Nguyễn Hữu Tiệp, Giáo trình nguồn nhân lực. Giáo trình trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, như khái niệm, tiêu chí, phân loại, những yếu tố chi phối đến nguồn nhân lực; trình bày vấn đề giáo dục đào tạo nguồn nhân lực, quản lý, bố trí, sử dụng, trọng dụng, các chính sách, cơ chế đối với nguồn nhân lực đất nước (Nguyễn Hữu Tiệp, 2010). Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Cuốn sách gồm các bài viết được sắp xếp thành hai phần: phần thứ nhất: CNH, HĐH ở Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa; phần thứ hai: giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Nội dung cuốn sách đề cập đến những vấn đề lý luận về CNH, HĐH. Đặc biệt là vấn đề CNH, HĐH rút ngắn trong giai đoạn hiện nay; phân tích sâu sắc thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, qua đó đưa ra các giải pháp xây dựng giai cấp công nhân trong điều kiện mới theo quan điểm của Đảng (Đại học Quốc gia Hà Nội). Cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Nguyễn Thanh. Tác giả đã luận giải những vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực và cho rằng đây là nhân tố có tính chất quyết định thành công sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta.
Hiện nay, việc sử dụng và phát triển nguồn nhân lực này còn tồn tại khá nhiều bất cập. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế của nguồn nhân lực trên là do cơ chế, chính sách đào tạo và sử dụng chưa hợp lý; cơ cấu cán bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) chưa phù hợp; môi trường làm việc khó khăn; bản thân đội ngũ KH&CN chưa nỗ lực vươn lên. Để góp phần khắc phục các hạn chế trên, cần nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ KH&CN, xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Đổi mới căn bản toàn diện công tác GD&ĐT là giải pháp hàng đầu trong phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta (Nguyễn Thanh, 2008).
Nghiên cứu về năng lượng tái tạo Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn trong phát triển NLTT; trong đó, năng lượng mặt trời cho phát điện với diện tích khả dụng chiếm gần 14% tổng diện tích toàn quốc, tiềm năng kỹ thuật đạt 1,7 triệu MW; tiềm năng kinh tế đạt trên 5 nghìn km2 phân bố ở 25 tỉnh thành với công suất đạt khoảng 166GW và sản lượng điện dự kiến 262. Nhằm thúc đẩy phát triển điện gió, Thủ tướng chính phủ vừa ban hành Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg ngày 29/6/2011 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam.