CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Một số khái niệm Nhân lực Nhân lực là sức người, về mặt sử dụng trong lao động sản xuất, đồng nghĩa với nhân công [28]. Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động [6]. Nhân lực là sức mạnh của người lao động, sức mạnh của cán bộ, công chức trong tổ chức.
Sức mạnh phải được kết hợp giữa người lao động và các nhóm yếu tố: sức khỏe, trình độ, tâm lý và khả năng cố gắng. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực, trí lực và nhân cách [24]. Thể lực là sức lực của cơ thể con người, là sức khỏe của thân thể con người. Thể lực phụ thuộc vào sức vóc, thể trạng vào tính chất di truyền hình thành của từng con người.
Ngoài ra, thể lực con người còn phụ thuộc vào mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, chế độ bảo hiểm, tuổi tác, giới tính, thời gian công tác,…[28]. Trí lực là năng lực trí tuệ, đó là sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu, quan điểm lòng tin, nhân cách,… của từng con người. Trí lực một phần phụ thuộc vào thể lực, một phần khác phụ thuộc vào quá trình giáo dục, đào tạo và môi trường kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng quốc gia và của cả loài người [28]. Luan van 5 Nhân cách được hiểu là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người.
Nhân cách là sự tổng hoà không phải các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý - xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân [28]. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng của con người, trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động (gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người) được huy động vào quá trình lao động nhằm đáp ứng mục tiêu của một tổ chức, doanh nghiệp [27]. Nguồn nhân lực gồm có số lượng và chất lượng. Số lượng của nguồn nhân lực đề cập đến số lượng lao động hiện có trong tổ chức, doanh nghiệp.
Đây là số lao động biên chế để duy trì sản xuất trong hiện tại hoặc dự kiến trong tương lai. Yếu tố về số lượng trong quản lý nguồn nhân lực tương ứng với việc quản lý biên chế. Nó bao hàm việc xác định nhu cầu biên chế hiện tại hoặc dự kiến trong tương lai, xác định một số đặc điểm mang tính định lượng về nguồn nhân lực thông qua tháp tuổi, tháp trình độ,… yếu tố này đã được chú trọng trong hoạt động quản lý nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là năng lực và động lực thúc đẩy người lao động trong quá trình tham gia đóng góp cho tổ chức.
Yếu tố về chất trong sử dụng nguồn nhân lực tương ứng với sử dụng năng lực và động lực làm việc của người lao động. Nó bao hàm việc xác định các nhu cầu về năng lực lao động cần có để so sánh với năng lực lao động thực tế của nhân viên. Luan van 6 Phát triển nguồn nhân lực Phát triển được hiểu đơn giản là quá trình biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít điến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao [27]. Dưới các góc nhìn và hướng tiếp cận khác nhau, phát triển nguồn nhân lực có một số khái niệm khác: Phát triển nguồn nhân lực là một chuỗi những hoạt động được tổ chức thực hiện trong một thời gian xác định nhằm thay đổi hành vi, liên quan đến vấn đề thực hiện chức năng của con người trong hệ thống sản xuất [12].
Phát triển nguồn nhân lực là một quá trình phát triển và thúc đẩy sự tinh thông, năng suất và sự hài lòng mà cần cho cá nhân hoặc nhằm mang lại lợi ích cho một tổ chức [6]. Một cách tổng quát, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự thay đổi tích cực về cơ cấu, thay đổi tiến bộ về chất lượng để phục vụ mục tiêu của tổ chức. Chất lượng được xem xét dưới các nội dung như: nâng cao năng lực (trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, nhận thức của người lao động) và tạo động lực thúc đẩy làm việc (tiền lương, khen thưởng, sự thăng tiến) cùng với quá trình tạo ra những thay đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực thực chất là tạo ra sự thay đổi đáng kể về chất lượng của nguồn nhân lực theo hướng tiến bộ.
Nói cách khác, phát triển nguồn nhân lực là làm gia tăng đáng kể chất lượng của nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của tổ chức và yêu cầu của người lao động [27]. Luan van 7 Đặc điểm của nguồn nhân lực trong các ngân hàng thương mại và ảnh hưởng của nó đến phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực trong các lĩnh vực, các ngành khác nhau thì nó có những đặc điểm khác nhau. Trong ngân hàng thương mại nó có các đặc điểm như sau: - Nhân lực của Ngân hàng bắt buộc phải qua đào tạo và được đào tạo tương đối kỹ. Ngoài trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nguồn nhân lực còn được huấn luyện và tự đào tạo về kỹ năng: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng, kỹ năng đàm phán, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng ra quyết định.
bởi vì nếu người lao động không có các kỹ năng này sẽ không đáp ứng được các yêu cầu của công việc. - Nhân lực trong ngành ngân hàng có tác phong mang tính chuyên nghiệp cao. Lao động nông nghiệp là lao động giản đơn và có tính độc lập tương đối cao, lao động công nghiệp là lao động có tính kỷ luật và mang tính dây chuyền trong một hệ thống, lao động ngân hàng phải mang tính chuyên nghiệp, từ tác phong làm việc đến phong cách phục vụ ngoài tính kỷ luật cao còn phải có lòng yêu nghề, có đạo đức tốt, có tính nhanh nhạy bởi vì sản phẩm kinh doanh đó là tiền tệ, đối tượng giao tiếp và khai thác là con người chứ không phải máy móc. Vì vậy, nguồn nhân lực ngân hàng phải có tác phong mang tính chuyên nghiệp cao.
- Trình độ nhận thức của nhân lực ngân hàng thường cao hơn một số ngành khác như nông nghiệp, lâm nghiệp và đòi hỏi có tính tư duy cao. Khác với nông nghiệp truyền thống, người nông dân có những nhận thức bảo thủ về các yếu tố tự nhiên liên quan đến sản xuất; trong sản xuất công nghiệp người công nhân phải có trình độ nhận thức nhất định để điều khiển máy móc, còn ngành ngân hàng đòi hỏi người lao động phải thường xuyên nắm bắt và cập nhật tình hình kinh tế thế giới, kinh tế trong nước, kinh tế tại địa phương để Luan van 8 có những ứng xử phù hợp với những diễn biến của thị trường, của nền kinh tế, của khách hàng. Nhân lực ngành ngân hàng, đặc biệt nhân lực tại những ngân hàng thương mại ngày càng phải hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao khả năng tư duy. - Nguồn nhân lực ngân hàng thường được phân bổ tập trung tại các đô thị, thành phố, trị trấn, thị tứ.
vì đó là những trung tâm kinh doanh, buôn bán của mọi người dân, của các doanh nghiệp. Những nơi này luôn là nơi ngân hàng trú đóng, sau khi tập trung khai thác vùng trung tâm một thời gian thì các ngân hàng mới triển khai ra các vùng lân cận, các vùng sâu, vùng xa. Như vậy, để có thể hoạt động trong ngành ngân hàng thì người lao động bắt buộc phải qua đào tạo, phải có tính chuyên nghiệp cao, phải có trình độ nhận thức tốt, khả năng tư duy tốt và kỹ năng nghề nghiệp hoàn thiện, và người lao động thường làm việc tập trung tại các vùng trung tâm, các khu đô thị, thành phố, thị trấn, thị tứ. những nơi mà hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, của các doanh nghiệp đa phần tập trung tại đó.
Ý nghĩa của phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản của mọi tổ chức. Nếu các tổ chức biết cách phát triển và khai thác tốt, thì nguồn nhân lực sẽ đóng góp rất lớn và quyết định sự thành công trong hiện tại cũng như trong tương lai của doanh nghiệp. Đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay thì nguồn nhân lực càng khẳng định được vị trí của nó trong các tổ chức, thông qua những giá trị mà nó tạo ra và không thể thay thế, cũng như có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của tổ chức. Mục tiêu chung của công tác phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự Luan van 9 giác hơn, với thái độ tốt hơn cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai.
Vì vậy, có nhiều lý do để khẳng định rằng phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là điều kiện quyết định để một tổ chức tồn tại và phát triển, được thể hiện qua: - Đối với tổ chức – đơn vị sử dụng lao động, phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược của tổ chức đó, nó biểu hiện ở năng suất lao động được nâng cao, đạt hiệu quả cao trong công việc, nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức, duy trì và nâng cao chất lượng đội ngũ của tổ chức, tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và quản lý vào tổ chức. - Đối với người lao động, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được nguyện vọng, nhu cầu được học tập nâng cao và cơ hội phát triển, thăng tiến trong sự nghiệp của bản thân, là một trong những yếu tố tạo nên động cơ lao động tốt.