Tổng quan nghiên cứu

Khu kinh tế mở Chu Lai được thành lập theo Quyết định 108/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích quy hoạch 27.040 ha, là mô hình khu kinh tế mở đầu tiên tại Việt Nam mang sứ mệnh làm đầu tàu thúc đẩy kinh tế miền Trung. Tính đến năm 2010, khu kinh tế đã thu hút 61 dự án cấp phép với quy mô vốn đăng ký trên 1,5 tỷ USD, đóng góp 733 tỷ đồng vào ngân sách năm 2009, tương đương 35% tổng thu ngân sách toàn tỉnh Quảng Nam. Mặc dù tổng số lao động làm việc tăng trưởng nhanh chóng, đạt 9.890 người vào cuối năm 2010 với tốc độ tăng bình quân 148,44% mỗi năm, công tác phát triển nhân lực tại đây đang đứng trước những rào cản gay gắt. Tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm tới 59,8%, trong khi lao động có trình độ cao đẳng, đại học chỉ đạt 10,6%, tạo ra khoảng cách lớn giữa yêu cầu kỹ thuật cao của các nhà đầu tư và khả năng cung ứng thực tế.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tại Khu kinh tế mở Chu Lai giai đoạn 2006 - 2010 trên cả ba chiều kích: quy mô số lượng, cơ cấu chuyên môn và chất lượng thể lực - trí lực. Từ đó, luận văn xác lập hệ thống quan điểm và đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành mũi nhọn như cơ khí ô tô, điện tử và công nghiệp phụ trợ giai đoạn 2010 - 2020. Phạm vi không gian giới hạn tại 16 xã, phường thuộc địa bàn huyện Núi Thành và thành phố Tam Kỳ, gắn liền với định hướng phát triển đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao năng suất lao động, tối ưu hóa nguồn lực cho 33 doanh nghiệp đang vận hành, đồng thời tạo cơ sở khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách an sinh và đào tạo nghề.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) kết hợp với học thuyết thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow. Lý thuyết vốn con người chỉ rõ rằng đầu tư vào giáo dục, y tế và đào tạo kỹ năng là hình thức đầu tư sinh lợi cao nhất, biến tiềm năng lao động thành nguồn vốn tri thức tạo ra giá trị thặng dư vượt bậc. Trong khi đó, tháp nhu cầu 5 bậc của Maslow được vận dụng để phân tích động lực làm việc của người lao động từ các nhu cầu sinh học, an toàn đến nhu cầu được tôn trọng và khẳng định bản thân trong môi trường công nghiệp.

Khung phân tích của đề tài kế thừa mô hình phát triển nguồn nhân lực của tác giả Phan Văn Kha (năm 2007), mô tả mối quan hệ tương hỗ giữa sáu mắt xích trọng yếu: tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, tự bồi dưỡng, môi trường làm việc và chăm sóc sức khỏe. Hệ thống khái niệm trung tâm bao gồm: nguồn nhân lực (tổng thể thể lực, trí lực và tâm lực của lực lượng lao động), phát triển nguồn nhân lực (quá trình gia tăng giá trị con người cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng), và hiệu quả sử dụng lao động. Về mặt chuẩn hóa cơ cấu, nghiên cứu đối chiếu cơ cấu đào tạo lý tưởng theo chuẩn quốc tế là 10 công nhân kỹ thuật - 4 trung cấp nghề - 1 đại học với thực trạng đào tạo tại Việt Nam thời điểm nghiên cứu là 0,92 - 1,13 - 1 nhằm làm rõ sự bất cập mang tính cấu trúc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng kết hợp định tính, dựa trên việc thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp từ Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam cùng báo cáo y tế định kỳ từ Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam. Dữ liệu thực nghiệm bao quát tổng thể 33 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn với tổng quy mô 9.890 lao động, trong đó mẫu khảo sát sức khỏe chuyên sâu ghi nhận trên 6.548 hồ sơ bệnh án công nhân trong giai đoạn 2008 - 2010.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng được áp dụng dựa trên 2 nhóm ngành chính (công nghiệp - xây dựng chiếm 25 doanh nghiệp, thương mại - dịch vụ chiếm 8 doanh nghiệp) và 4 nhóm quy mô lao động (từ dưới 10 người đến trên 300 người). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp phân tích là nhằm làm sáng tỏ quy luật dịch chuyển cơ cấu, bóc tách mối tương quan giữa quy mô vốn đầu tư với mức độ thâm dụng lao động kỹ thuật. Toàn bộ chuỗi dữ liệu thực nghiệm được tổng hợp trong mốc thời gian 2006 - 2010, phục vụ việc dự báo nhu cầu nhân lực đến năm 2015 và tầm nhìn 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô lao động tăng trưởng vượt bậc nhưng phân bổ không đồng đều giữa các ngành nghề. Lực lượng lao động làm việc tại Khu kinh tế mở Chu Lai tăng từ 2.256 người năm 2006 lên 9.890 người vào năm 2010, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 148,44% mỗi năm. Tuy nhiên, có tới 9.432 lao động (chiếm 95,37%) tập trung trong ngành công nghiệp - xây dựng tại 25 doanh nghiệp, trong khi khối du lịch - dịch vụ chỉ thu hút 458 lao động tại 8 doanh nghiệp (chiếm 4,63%). Mức độ tập trung lao động rất cao khi 83,40% tổng số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp quy mô lớn trên 300 người, riêng các tập đoàn trên 1.000 lao động chiếm 47,48%.

Thứ hai, chất lượng trí lực và trình độ kỹ thuật chuyển biến chậm so với yêu cầu công nghệ. Mặc dù trình độ học vấn phổ thông cải thiện rõ rệt với 73,0% lao động tốt nghiệp trung học phổ thông (7.219 người) vào năm 2010, tỷ trọng lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo 59,8% (5.912 người). Lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chỉ chiếm 10,6% (1.048 người), cho thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ kỹ sư trưởng, chuyên gia công nghệ và cán bộ quản lý cấp trung.

Thứ ba, cơ cấu nhân khẩu học mang đặc tính trẻ hóa cao với 81,0% người lao động dưới 35 tuổi (nhóm 15 - 24 tuổi chiếm 42,4% và nhóm 25 - 34 tuổi chiếm 38,6%). Đây là lợi thế lớn về khả năng tiếp thu công nghệ nhưng đặt ra thách thức về tính kỷ luật và sự thiếu hụt kinh nghiệm làm việc thực tế.

Thứ tư, tình trạng thể lực và bệnh nghề nghiệp phản ánh qua kết quả khám sức khỏe 6.548 lượt lao động cho thấy 90,4% đạt sức khỏe loại I đến loại III, tỷ lệ loại IV chiếm 9,6%. Đáng chú ý, tỷ lệ mắc bệnh răng hàm mặt chiếm tới 38,5% (2.520 ca) và các bệnh viêm đường hô hấp trên chiếm 8,6% (563 ca), xuất phát từ môi trường làm việc công nghiệp cơ khí, sản xuất kính và vật liệu xây dựng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng thừa lao động phổ thông, thiếu lao động kỹ thuật bắt nguồn từ chính sách thu hút tuyển dụng ưu tiên giải quyết việc làm cho con em địa phương thuộc diện thu hồi đất giải phóng mặt bằng. Đa số lao động xuất thân từ nông nghiệp, quen nếp sống tự do, chưa được trang bị tác phong công nghiệp và kỹ năng thao tác máy móc tự động hóa. Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề theo Quyết định 12/2007/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (mức hỗ trợ tối đa 50% chi phí nhưng không quá 300 triệu đồng cho mỗi dự án) chưa đủ sức khuyến khích các doanh nghiệp FDI và tư nhân đầu tư mạnh vào các chương trình đào tạo chuyên sâu dài hạn.

Khi so sánh với bài học quốc tế, mô hình của Nhật Bản với 85% lực lượng lao động được đào tạo nghề trực tiếp tại doanh nghiệp và chế độ đãi ngộ theo thâm niên là một gợi ý thực tiễn giá trị. Ngược lại, tại Chu Lai, mối liên kết giữa doanh nghiệp và các trường đại học, trường nghề trên địa bàn còn lỏng lẻo. Về mặt trực quan hóa dữ liệu, các phát hiện này được minh chứng rõ nét khi tổng hợp qua biểu đồ cột chồng thể hiện sự dịch chuyển cơ cấu chuyên môn qua 3 năm (2008 - 2010), cùng bảng ma trận chéo phản ánh tương quan giữa quy mô doanh nghiệp trên 300 lao động (chiếm 83,40%) với năng lực tự thành lập cơ sở đào tạo nội bộ. Việc thiếu hụt các khu nhà ở công nhân tập trung và hạ tầng an sinh xã hội cũng là nguyên nhân trực tiếp khiến tỷ lệ gắn bó lâu dài của lao động kỹ thuật cao chưa đạt kỳ vọng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính và phát triển mạng lưới đào tạo nghề theo cơ chế ba nhà: Nhà nước - Doanh nghiệp - Nhà trường. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai cần sửa đổi cơ chế hỗ trợ, nâng mức trần tài trợ kinh phí đào tạo từ 300 triệu đồng lên mức 600 triệu đồng cho mỗi dự án công nghệ cao, đồng thời tài trợ 70% chi phí đào tạo lại cho công nhân cơ khí ô tô và linh kiện điện tử. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 40,2% năm 2010 lên 65% vào năm 2015 và đạt 75% vào năm 2020.

Thứ hai, đẩy nhanh tiến độ xây dựng Trung tâm đào tạo nghề và nghiên cứu khoa học kỹ thuật tập trung với diện tích 295 ha theo đúng quy hoạch được duyệt. Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai chủ trì phối hợp cùng các tập đoàn hạt nhân như Công ty Cổ phần Ô tô Trường Hải (Thaco) xây dựng mô hình trường dạy nghề trong doanh nghiệp, triển khai ngay trong giai đoạn 2011 - 2015 nhằm cung ứng 3.000 kỹ thuật viên tay nghề cao mỗi năm.

Thứ ba, thực thi chính sách an sinh xã hội, giải quyết dứt điểm nhu cầu nhà ở và chăm sóc sức khỏe người lao động. Ban Quản lý cần phối hợp với các chủ đầu tư triển khai xây dựng các khu chung cư công nhân trên quỹ đất ưu đãi, phấn đấu đến năm 2015 đáp ứng chỗ ở ổn định cho ít nhất 50% lao động ngoại tỉnh và giảm tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp từ 8,6% xuống dưới 4% thông qua việc cải thiện hệ thống hút bụi, lọc khí tại các nhà máy kính và gạch men.

Thứ tư, thiết lập Ngân hàng dữ liệu việc làm và Văn phòng xúc tiến lao động trực tuyến theo mô hình của Nhật Bản và Hàn Quốc. Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai trực tiếp vận hành hệ thống số hóa thông tin tuyển dụng từ năm 2012, phấn đấu rút ngắn thời gian kết nối việc làm từ 30 ngày xuống dưới 10 ngày, bảo đảm cung ứng kịp thời cho mục tiêu quy mô 20.000 lao động vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý các Khu kinh tế, Khu công nghiệp trên toàn quốc. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn sâu sắc về mô hình cơ chế một cửa liên thông và phương pháp hoạch định chính sách chuyển dịch việc làm cho 9.890 lao động tại các vùng động lực kinh tế ven biển.

Nhóm 2: Giám đốc nhân sự và nhà quản trị tại 33 doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn. Tài liệu đưa ra khung đánh giá hiệu quả sử dụng lao động, phương pháp xây dựng thang bảng lương và giải pháp tạo động lực làm việc dựa trên tháp nhu cầu Maslow cho các doanh nghiệp có trên 300 công nhân (chiếm 83,40% tổng lực lượng lao động).

Nhóm 3: Các trường đại học, cao đẳng và trung tâm giáo dục nghề nghiệp khu vực miền Trung. Báo cáo thực trạng là căn cứ quan trọng để đổi mới giáo trình, tái cơ cấu chỉ tiêu tuyển sinh nhằm giải quyết dứt điểm tình trạng 59,8% lao động phổ thông chưa đáp ứng yêu cầu vận hành dây chuyền công nghệ cao.

Nhóm 4: Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản trị nhân lực, Quản lý kinh tế và Kinh tế phát triển. Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thực chứng, kết hợp phân tích chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội với 6.548 mẫu kiểm tra y tế thực tế tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm nghẽn lớn nhất trong cơ cấu nguồn nhân lực tại Khu kinh tế mở Chu Lai giai đoạn 2006 - 2010 là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tốc độ tăng trưởng quy mô lao động (đạt 9.890 người năm 2010, tăng bình quân 148,44% mỗi năm) và chất lượng chuyên môn kỹ thuật. Lực lượng lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm tới 59,8%, trong khi trình độ cao đẳng, đại học chỉ đạt 10,6%, không đáp ứng đủ nhu cầu vận hành công nghệ tự động hóa.

  2. Tháp nhu cầu Abraham Maslow được ứng dụng như thế nào trong quản trị nhân lực tại Chu Lai? Tháp nhu cầu Maslow giúp phân loại và đáp ứng các mong muốn của người lao động. Tại Chu Lai, nơi 81,0% lao động có độ tuổi dưới 35, doanh nghiệp cần bảo đảm nhu cầu cơ bản và an toàn thông qua lương thưởng, nhà ở xã hội theo Quyết định 12/2007/QĐ-UBND, sau đó tạo động lực thăng tiến và tự khẳng định thông qua đào tạo kỹ thuật chuyên sâu.

  3. Quyết định 12/2007/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam có tác động như thế nào đến doanh nghiệp? Quyết định 12/2007/QĐ-UBND hỗ trợ tối đa 50% chi phí đào tạo lại nghề cho doanh nghiệp với mức trần 300 triệu đồng mỗi dự án, đồng thời miễn tiền thuê đất để xây dựng chung cư công nhân. Đây là đòn bẩy quan trọng giúp các doanh nghiệp quy mô lớn trên 1.000 lao động ổn định nguồn nhân lực giai đoạn đầu.

  4. Bài học kinh nghiệm đào tạo nghề của Nhật Bản có thể áp dụng vào Chu Lai theo phương thức nào? Chu Lai có thể học tập mô hình đào tạo nghề trực tiếp tại doanh nghiệp (nơi 85% lao động Nhật Bản được đào tạo nội bộ) theo phương thức thầy kèm thợ. Doanh nghiệp lớn như Thaco Trường Hải có thể liên kết với Ban Quản lý để mở trường đào tạo chính quy ngay tại nhà máy sản xuất.

  5. Đặc điểm 81,0% lực lượng lao động dưới 35 tuổi mang lại cơ hội và rủi ro gì cho các nhà đầu tư? Cơ hội lớn là lực lượng lao động trẻ dồi dào, có sức khỏe dẻo dai (90,4% đạt chuẩn sức khỏe loại I đến III) và khả năng tiếp thu công nghệ nhanh. Tuy nhiên, rủi ro đi kèm là tính gắn kết công việc chưa cao, thiếu tác phong công nghiệp và tỷ lệ mắc bệnh răng miệng chiếm tới 38,5%.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phát triển nhân lực trong khu kinh tế mở, tích hợp lý thuyết vốn con người và mô hình quản trị hiệu quả của Phan Văn Kha.
  • Đánh giá chân thực thực trạng nhân lực Khu kinh tế mở Chu Lai với 9.890 lao động, chỉ rõ nghịch lý giữa tăng trưởng số lượng 148,44% mỗi năm với tỷ lệ lao động phổ thông lên tới 59,8%.
  • Đúc kết bài học thực tiễn từ các mô hình phát triển nhân lực thành công tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc nhằm thích ứng cho 33 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với lộ trình 2 giai đoạn 2011 - 2015 và 2016 - 2020, hướng tới mục tiêu 75% lao động qua đào tạo bài bản.
  • Đóng góp luận cứ khoa học sắc bén phục vụ công tác quy hoạch 27.040 ha đất khu kinh tế, tối ưu hóa nguồn thu ngân sách đạt trên 733 tỷ đồng hàng năm.

Nghiên cứu khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là chìa khóa quyết định sự sống còn và năng lực cạnh tranh của Khu kinh tế mở Chu Lai trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Các cơ quan quản lý nhà nước, ban lãnh đạo doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các chính sách tài chính, nhà ở và chương trình đào tạo kỹ thuật để xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, vững bước đưa Quảng Nam trở thành trung tâm công nghiệp động lực của miền Trung.