CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở VỆT NAM I. NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Nguồn nhân lực và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực 1.1 Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực (NNL) là một khái niệm không phải mới, đã xuất hiện và được sử dụng ở nhiều nước nhưng ở nước ta mới xuất hiện trong thời gian gần đây và hiện nay được sử dụng nhiều không chỉ trong giới khoa học mà ngay ở trong cơ quan doanh nghiệp, NNL đang là một vấn đề được chú ý và đặc biệt quan tâm ở nước ta hiện nay. NNL là một khái niệm đa dạng và rộng lớn khi các nhà khoa học, nhà kinh tế nghiên cứu, phân tích ở các khía cạnh, góc độ khác nhau. Hiện nay chưa có một định nghĩa chung nào cho phạm trù NNL.
Trong kinh tế chính trị học, con người được coi là yếu tố trung tâm của quá trình sản xuất xã hội. Khi đề cập đến lực lượng sản xuất thì con người được coi là 5 lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất quuyết định sự vận động và phát triển của LLSX, quyết định quá trình sản xuất và năng suất lao động. Chính vì vậu, NNL là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế – xã hội. NNL trong lý thuyết tăng trưởng kinh tế được xác định là nguồn lực chủ yếu tạo động lực cho sự phát triển, do đó NNL đóng vai trò là yếu tố cơ bản hàng đầu quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Trong quá trình SXKD khi nói về vốn, con người được đề cập đến như một loại vốn, nó đóng vai trò quan trọng, cơ bản và quyết định thành bại của quá trình này. Đề cập đến vấn đề này thống đốc ngân hàng (WB) cho rằng: “NNL con người được hiểu là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu. Như vậy nguôn lực con người coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn khác như tiền ( tư bản), công nghệ tài nguyên thiên nhiên, đất đai… Liên hợp quốc (UN) đề cập đến vấn đề này thì cho rằng: “NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người liên quan đến sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước”. Trong quan niệm này NNL được xem xét chủ yếu ở phương diện chất lượng con người, cùng với vai trò của nó trong việc phát triển kinh tế – xã hội.
Có thể điểm thêm một số quan niệm, cũng như cách đánh giá nhìn nhận khác nhau về NNL, của một số học giả, nhà nghiên cứu trong nước để thấy được tính đa dạng phong phú, rộng lớn của vấn đề này. Trong đề tài khoa họcmã số KX – 07 “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội”, do giáo sư tiến sĩ khoa học Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm thì: “Phát triển người tựu trung là gia tăng giá trị cho con người, giá trị tinh thần, giá trị đạo đức, giá trị thể chất, vật chất”, phát triển NNL được hiểu cơ bản là gia tăng giá trị con người trên mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, 6 tâm hồn, thể lực …làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực phẩm chất mới cao đẹp, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự phát triển KTKH, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong luận án Tiến sĩ Triết học – Nguồn lực con người trong quá trình CNH – HĐN đất nước – tác giả Đoàn Văn Khải cho rằng “Nguồn lực con người là chỉ số dân, cơ cấu và dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả các đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội”. Một số nhà khoa học đưa ra quan điểm:NNL được xem là số dân và chất lượng con người, bao gồm thể chất, tinh thần, sức khoẻ, trí tuệ, năng lực, phẩm chất thái độ và phong cách lao động.Chất lượng NNL phải gắn liền với truyền thống văn hoá dân tộc.
Như vậy, NNL được đề cập đến dưới nhiều góc độ, khía cạnh, quan điểm thành tựu chung đều thống nhất ở những nội dung cơ bản đó là : “NNL là nguồn cung cấp sức lao động, là yếu tố cấu thành của LLSX mà nó giữ vai trò trung tâm và quyết định đến sự phát triển KT – XH của một quốc gia, đồng thời được xem xét là một yếu tố đánh giá sự phát triển, tiến bộ xã hội của đất nước”. Nói đến NNL là nói đến nguồn lực về con người, nó được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì NNL bao gồm sức mạnh cả thể chất, trí tuệ, tinh thần và sự tương tác giữa các cá nhân trong một tập thể, cộng đồng, trong một xã hội, một quốc gia, được đem gia hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào những việc hữu ích.Với tư cách là yếu tố của sự phát triển KTXH thì NNL là khả năng lao động của xã hội. Khi xem xét NNL người ta thường xem xét dưới hai góc độ, đó là số lượng và chất lượng NNL.
7 Về số lượng: Được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu qui mô và tốc độ tăng NNL. Các chỉ tiêu này liên quan đến chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số, tuổi thọ bình quân …NNL đóng vai trò quan trọng đến sự phát triển KTXH một đất nước, nếu số lượng không phù hợp không tương xứng với sự phát triển ( cả trong trường hợp thiếu hoặc thừa) sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển.Như vậy số lượng NNL xã hội bằng tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người dự phòng. Đối với doanh nghiệp thì NNL không bao gồm những người trong độ tuổi lao động của toàn xã hội mà chỉ tính những người trong độ tuổi lao động đang làm việc trong doanh nghiệp. Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, phong cách, động cơ và ý thức lao động.
Nói đến chất lượng NNL là nói đến sức khẻo, trí tụê và phẩm chất đạo đứcv.v…ba mặt thể lực, trí lực, tinh thần có quan hệ chặt chẽ với nhau và thống nhất cấu thành chất lượng NNL. Trong đó thể lực là yếu tố cơ sở, nền tảng để phát triển, truyền tải tri thức, trí tuệ vào hoạt động thực tĩên, tinh thần ( phong cách đạo đức, tác phong, ý thức…) đóng vai trò chi phối chuyển hoá thể dục, trí tuệ vào thực tiễn hoạt động. Trí tuệ là yếu tố quyết định đến chất lượng NNL. Từ các phân tích, các luận cứ khoa học cũng như kế thừa kiến thức của các tổ chức, các nhà nghiên cứu khoa học đi trước tác giả luận văn cho rằng: “ NNL là nguồn lực về con người bao gồm cả về chất lượng và số lượng” và số người dự phòng liên quan đến chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số, tuổi thọ bình quân .vv chất lượng đựợc thể hiện ở trí lực, tinh thần bao hàm các nội dung và sức mạnh của nó.
Điều đó được thể hiện trong quá trình phát triển bản thân con người và xã hội”. Phát triển nguồn nhân lực 8 Nói đến sự phát triển NNL là nói đến phát triển nguồn lực con người hoặc phát triển nguồn tài nguyên con người được dịch từ cụm tiếng Anh: Human Resourses Development và khái niệm phát triển con người được dịch từ cụm tiếng Anh: Human Development là những khái niệm đã được hình thành và phát triển trên thế giới từ những năm 70 của thế kỷ XX. Khái niệm phát triển con người và khái niệm NNL có mối liên hệ, liên quan chặt chẽ với nhau. Trong chương trình KT – 07 “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển KTXH” do giáo sư, tiến sĩ khoa học Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm các tác giả cho rằng: “phát triển người tựu trung là gia tăng giá trị con người, giá trị tinh thần, gía trị đạo đức, giá trị thể chất, vật chất”, “Phát triển nguốn nhân lực được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực…làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực phẩm chất mới cao đẹp, đáp ứng được yêu cầu to lớn của sự phát triển KTXH, của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Giáo sư Vũ Văn Tảo trong bài viết: “Những hướng đột phá nhằm phát triển NNL” đã chỉ ra và nhấn mạnh việc phát triển con người, phát triển NNL con người là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững.Theo ông cần tạo được những bước đột phá quan trọng như cải tiến mạnh mẽ tổ chức và cơ chế vận hành của giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, có chính sách quy hoạch và sử dụng NNL đúng đắn. Đất nước ta với đường lối đổi mới, mở cửa, chúng ta đã phát triển và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với nhiều quốc gia trong khu vực và quốc tế, là thành viên của hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), tham gia các hiệp định mậu dịch ASEAN; Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương ( APEC); là sáng lập viên diễn đàn hợp tác Á ÂU ( ASEM)… và ngày 7/11/2007 nước ta được kết nạp là thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO ), chính với bối cảnh 9 đó, việc phát triển con người, phát triển NNL là yếu tố quyết định nhất cho sự phát triển bền vững đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Theo Liên hợp Quốc, để phát triển con người cần phải đầu tư vào con người, phát triển nhân tính đi đôi với khả năng của họ. Đồng thời với việc đầu tư vào con người phải tạo ra cơ hội, điều kiện, môi trường thuận lợi cho con người hoạt động và phát huy năng lực, hiệu quả.
Hai điều này có quan hệ tương hỗ với nhau. Có thể nói phát triển NNL là sự biến đổi về số lượng và chất lượng NNL, được biểu thị thông qua các mặt cơ cấu, thể lực kĩ năng Theo tác giả luận văn thì: “phát triển NNL là sự phát triển về nguồn lực con người.Đó là quá trình của sự biến đôi về số lượng và chất lượng NNL, được biểu hiện thông qua các mặt số lượng, cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần thiết cho công việc.