Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Những khái niệm liên quan 1. Khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực * Nhân lực Các quan niệm và cách thức tiếp cận về nhân lực Nhân lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về nhân lực.
Trên phạm vi quốc gia nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động. Nhân lực của quốc gia phụ thuộc vào việc quy định của Nhà nước về độ tuổi lao động và khả năng tham gia lao động của từng cá nhân cụ thể. Trong hoạt động sản xuất ra của cải vật chất của loài người, năng lực lao động của con người có tác dụng chi phối chủ yếu, là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Sự phân công lao động xã hội càng sâu sắc, xã hội hóa nền sản xuất càng cao thì tính chất xã hội hóa của sức lao động của mỗi con người càng nhiều hơn.
Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội cần phải phát huy đầy đủ nguồn tài nguyên nhân lực, phát huy tính chủ động sáng tạo của người lao động. Trong cuốn “Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH đất nước” khi tìm hiểu một số thuật ngữ hành chính, các tác giả đã phân biệt nghĩa rộng và nghĩa hẹp của thuật ngữ nhân lực. Theo các tác giả của cuốn sách này thì: “Nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là nguồn lực con người”; Nhân lực theo nghĩa hẹp (hay nhân lực xã hội và nhân lực doanh nghiệp) được hiểu như sau: “Nhân lực xã hội (còn gọi là nguồn lao động xã hội) là c 5 dân số trong độ tuổi có khả năng lao động” và “nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp” [21, tr. Nói đến nhân lực là nói đến con người, đã có nhiều quan điểm nói tới nhân lực, một khái niệm phản ánh chung nhất: Nhân lực là toàn bộ khả năng thể lực và trí lực của con người tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Quan niệm hiện đại về nhân lực Thống nhất với các quan điểm trên, nhân lực là năng lực mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như tất cả các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hoặc một xã hội. Nói cách khác, nhân lực là tổng hợp các cá nhân cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội. Từ định nghĩa chung này có thể xem xét thuật ngữ nhân lực dưới một số khía cạnh. Nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động. Nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo của doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.Đỗ Minh Cương và PGS.TS Nguyễn Thị Doan thì: “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất”. Nhân lực còn được hiểu là lực lượng lao động với kỹ năng tương ứng sử dụng các nguồn lực khác nhau tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường và xã hội. Vậy nhân lực là lực lượng người lao động với kỹ năng nhất định để làm công việc nào đó mà xã hội hay thị trường có nhu cầu.
c 6 * Nguồn nhân lực Đối với nước ta CNH, HĐH là con đường tất yếu để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và phát triển nền kinh tế theo định hướng XHCN. Để tiến hành CNH, HĐH cần phải có các nguồn lực cần thiết bao gồm nguồn lực con người; Nguồn lực đất đai, tài nguyên; Nguồn lực tài chính; Nguồn lực khoa học công nghệ. Trong đó nguồn lực con người, hay nguồn nhân lực là quan trọng nhất. Trong nền kinh tế nào cũng vậy, nguồn nhân lực bao giờ cũng giữ vai trò quyết định đối với các hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Ngay cả trong nền kinh tế kém phát triển, sản xuất còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, trình độ hiểu biết của con người còn thấp, thì con người vẫn là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển kinh tế. Khi nền kinh tế thế giới đang dần chuyển sang nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra hết sức nhanh chóng thì vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế lại càng rõ nét hơn. Trong nền kinh tế toàn cầu cạnh tranh quyết liệt thì ưu thế cạnh tranh luôn nghiêng về các quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, hiện nay trong chiến lược phát triển của mình, nhiều quốc gia đã xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố cạnh tranh cơ bản nhất.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp quốc thì "NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước" [52, tr. Theo Cơ quan phát triển của Liên Hợp quốc UNDP, thì NNL là tổng thể những năng lực của con người được huy động vào quá trình sản xuất. Ngân hàng thế giới cho rằng: NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.
của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: Vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. c 7 Theo các tác giả của cuốn "Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" do GS. TSKH Lê Du Phong chủ biên thì "Nguồn lực con người được hiểu là tổng hoà trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động của con người.
Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người”.19] Lại có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là trình độ hành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống của con người để phát triển kinh tế của một vùng, một đất nước. Bộ môn "Kinh tế phát triển" đưa ra khái niệm nguồn nhân lực một cách cụ thể hơn: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: Về số lượng, đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động từ họ; Về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm việc làm.
Cũng như nguồn nhân lực, nguồn lao động được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Theo khái niệm này, có một số người được tính là nguồn nhân lực, nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học. Như vậy, có thể hiểu, nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia với những năng lực thể chất và tinh thần, trình độ nghề nghiệp, kinh nghiệm và phong cách, phẩm chất nhất định đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Nguồn nhân lực có những đặc trưng về số lượng và chất lượng.
c 8 Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đối với quá trình CNH, HĐH nói riêng. Ở nước ta số lượng nguồn nhân lực được xác định bao gồm tổng số người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động (nam 15-60, nữ 15-55). Vì theo Bộ luật lao động hiện nay thì “người lao động phải ít nhất đủ 15 tuổi”. Luật lao động đã quy định giới hạn của độ tuổi lao động đối với nam là 60, nữ là 55.
Khi tính toán khả năng cung cấp lực lượng lao động cho xã hội, người ta phải tính đến các chỉ số về dân số, tốc độ tăng dân số, cơ cấu dân số: Số dân ở độ tuổi lao động, số người ăn theo, số người có việc làm, số người thất nghiệp…Sự gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và gia tăng nguồn nhân lực, có nghĩa là sự gia tăng sau 15 năm sẽ kéo theo sự gia tăng nguồn nhân lực. Nhưng nhịp độ tăng dân số chậm lại cũng không làm giảm ngay lập tức nhịp độ tăng nguồn nhân lực. Như vậy, NNL bao gồm số người đang làm việc trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội hay số người có việc làm; số người thất nghiệp; số người làm công việc nội trợ và học sinh trong độ tuổi lao động hay lao động dự nguồn. Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên quan đến nhiều quá trình kinh tế - xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường việc làm được xem là những hoạt động đem lại thu nhập. Theo Bộ Luật Lao động năm 2012 thì mọi hoạt động tạo ra thu nhập không bị luật pháp cấm đều được thừa nhận là việc làm.