Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Khái niệm và tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ 20 khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức phát triển, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Trước đây, quan niệm phát triển nguồn nhân lực xem họ là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu.
“ Kể từ thập niên 80 của thế kỷ 20 cho đến nay, quan điểm phát triển nguồn nhân lực (hurman resourses management) với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. ” Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức phát triển mới đối với phương thức phát triển cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người. Có khá nhiều những quan niệm khác nhau về “nguồn nhân lực” như: Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu “ hoá đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực ” Nicholas Henry (1996) định nghĩa: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người 9 của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới.
Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức”; Theo George T.Milkovich (1999): “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức.” Ở Việt Nam, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu “ công cuộc đổi mới. Một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước mã số KX - 07 do GS.TSKH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, cho rằng nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất. Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực được hiểu là sự tổng hòa số lượng và chất lượng nguồn nhân lực. ” Mặc dù những định nghĩa trên có cách diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung lại tất cả đều thể hiện nguồn nhân lực là một sự kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố trí lực, thể lực và nhân cách thẩm mỹ.
Đây là các yếu tố cơ bản nhất hướng người lao động đến sự phát triển toàn diện. Tóm lại: Nguồn nhân lực ngành là tiềm năng lao động của đội ngũ nhân viên công nhân viên trong tổ chức trên các mặt số lượng, cơ cấu (theo giới tính, độ tuổi, tính chất công việc) và chất lượng, bao gồm phẩm chất và năng lực (trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu phát triển, phục vụ cho mục đích tối đa hóa lợi nhuận của tổ chức. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức * Khái niệm phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức: Nguồn nhân lực của một tổ chức, một tổ chức được hình thành trên cơ sở các “ cá nhân với các vai trò, ví trí được phân công khác nhau, nhưng do yêu cầu hoạt động của tổ chức, của tổ chức, đã được liên kết lại với nhau để phấn đấu cho một 10 mục tiêu nhất định, nhằm đạt những thành quả do tổ chức, tổ chức đó đề ra. Nguồn nhân lực khác với nguồn lực khác của tổ chức (tài chính, vốn, tài nguyên, thiết bị .) ” Hiện nay cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực được trình bày: Theo Nicholas Henry (1996) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là bao gồm toàn bộ những biện pháp, thủ tục áp dụng cho nguồn nhân lực của một tổ chức và giải quyết tất cả những trường hợp xảy ra có liên quan đến công việc nào đó.” Quan điểm của Felix Migro (1992) thì cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là nghệ thuật chọn lựa những nguồn nhân lực mới và sử dụng những nguồn nhân lực cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đạt đến mức tối đa có thể được .” ” Theo Trần Văn Tùng (2005): “Phát triển nguồn lực nhân lực được hiểu là tổng thể tất cả những hoạt động được doanh nghiệp hay cơ quan Nhà Nước tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định nhằm mục đích tạo ta những sự thay đổi tích cực trong hành vi nghề nghiệp của người lao động.” Như vậy, tác giả có thể rút ra khái niệm phát triển nguồn nhân lực như sau: Phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức là quá trình phát triển yếu tố con người trong tổ chức, đảm bảo sự hợp lý cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực cho phù hợp với nhu cầu của tổ chức trong hiện tại và tương lai.
* Các chủ thể phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức: Phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức là công tác kết hợp trách nhiệm và vai trò của nhiều chủ thể quản lý, trong đó có vai trò từ nội bộ tổ chức và các cơ quan chức năng quản lý nhà nước có liên quan: - Các nhà lãnh đạo của tổ chức: Phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức thì vai trò, trách nhiệm đầu tiên phải “ thuộc về nội bộ tổ chức. Chủ thể quản lý thuộc về tổ chức là lãnh đạo tổ chức. Các nhà lãnh đạo của tổ chức trực tiếp quản lý nguồn nhân lực tại tổ chức, áp dụng các chính sách điều tiết, thay đổi nhằm phát triển số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực tại tổ chức được phù hợp với mục đích, nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực 11 tại tổ chức bằng cách áp dụng chính sách pháp luật, các quy định của nhà nước về phát triển nguồn nhân lực một cách phù hợp, xây dựng thành quy chế quản lý và thực hiện các hoạt động liên quan đến phát triển nguồn nhân lực áp dụng cho nội bộ tổ chức .” - Cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan quản lý Nhà nước: Cơ quan quản lý cấp trên hay đơn vị chủ quản của tổ chức có vai trò và trách nhiệm kiểm tra, phê duyệt các quyết định, quy định và thực hiện các hoạt động liên quan đến phát triển nguồn nhân lực áp dụng cho nội bộ tổ chức do các nhà quản trị tổ chức trình lên. Đồng thời cơ quan quản lý cấp trên cử đại diện trực tiếp giám sát hiện các hoạt động phát triển nguồn nhân lực tổ chức có hiệu quả, đúng đường lối, chủ trường của tổ chức.
“Cơ quan quản lý Nhà nước là các cơ quan có vai trò quản lý các hoạt động có liên quan đến sản xuất, hoạt động của tổ chức, cũng như cơ quan được Nhà nước giao trách nhiệm về việc quản lý lao động, nguồn nhân lực tại các tổ chức như Bộ Lao động Thương binh&Xã hội (trung ương), Sở LĐTB&XH (cấp tỉnh), Phòng Lao động (cấp huyện)…các cơ quan này có trách nhiệm kiểm tra, giám sát công tác phát triển nguồn nhân lực tại các tổ chức có đúng với các quy định của pháp luật và chính sách của nhà nước hay không? Các chế độ dành cho người lao động có đảm bảo hay không ? ” - Các hiệp hội, cơ sở đào tạo: Các hiệp hội, cơ sở đào tạo có vai trò đảm bảo việc phát triển nguồn nhân lực được thực hiện hiệu quả. Trong có các hiệp hội như hiệp hội lao động, hội liên hiệp Phụ nữ…có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Các cơ sở đào tạo có trách nhiệm đào tạo, giáo dục nâng cao năng lực, kiến thức, nghiệp vụ cho nguồn nhân lực nhằm phát triển chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức. Tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức 1.
Mức độ phù hợp về số lượng nguồn nhân lực trong tổ chức Tiêu chí này được đánh giá trên cơ sở nhu cầu nguồn nhân lực thực tiễn của tổ chức và các chính sách tuyển dụng được các nhà quản trị tổ chức và cơ quan quản 12 lý cấp trên áp dụng để tuyển dụng, phân bổ số lượng nguồn nhân lực trong tổ chức. ” Việc tuyển dụng phải phù hợp với nhu cầu chung của tổ chức, cơ cấu công “ việc và yêu cầu của các bộ phận trong tổ chức. Các nhà quản trị tổ chức phải bố trí, săp xếp để đảm bảo sự phù hợp về số lượng nguồn nhân lực trong tổ chức. Mức độ phù hợp về chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức “ ” Tiêu chí này được đánh giá trên cơ sở các chính sách đào tạo, nâng cao chất “ lượng nguồn nhân lực được các nhà quản trị tổ chức và cơ quan quản lý cấp trên áp dụng.
Cũng như hiệu quả của các chính sách khuyến khích phát triển, thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao và năng lực chuyên môn tốt, công tác lâu dài tại tổ chức .” Các nhà quản trị tổ chức liên kết với các cơ sở đào tại tiến hành đánh giá, chọn lọc nội dung và chương trình đào tạo phù hợp đối với từng trường hợp nguồn nhân lực hoặc theo nhu cầu của người lao động nhằm phát triển chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức một cách phù hợp nhất. Mức độ phù hợp về cơ cấu nguồn nhân lực trong tổ chức “ ” Tiêu chí này được đánh giá trên cơ sở sắp xếp, cơ cấu nguồn nhân lực tại tổ chức được các nhà quản trị tổ chức và cơ quan quản lý cấp trên áp dụng. Trong đó phải xem xét cơ cấu về trình độ và độ tuổi của nguồn nhân lực.