CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ðỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực là nhân tố quyết ñịnh nhất ñối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trình ñộ phát triển của nguồn nhân lực là một thước ño chủ yếu sự phát triển của các quốc gia. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới ñều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực.
Trong thế kỷ XX, ñã có những quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhưng do phát huy tốt nguồn nhân lực nên ñã ñạt ñược thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành công nghiệp hóa và hiện ñại hóa chỉ trong vài ba thập kỷ. Theo ñịnh nghĩa từ giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của tác giả Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu thì: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt ñộng. Sức lực ñó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và ñến một mức ñộ nào ñó, con người ñủ ñiều kiện tham gia vào quá trình lao ñộng – con người có sức lao ñộng”.12] Ngoài ra, nhân lực còn là nguồn lực của mỗi người bao gồm cả thể lực và trí lực, nó phản ánh khả năng lao ñộng của con người và là ñiều kiện tiên quyết trong mọi quá trình lao ñộng sản xuất của xã hội. Như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn như sau: “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực, trí lực và nhân cách”.
Trong ñó: - Thể lực chỉ sức lực của cơ thể người. Thể lực giúp cho con người có khả năng làm các công việc liên quan ñến sức vóc, cơ bắp… hay nói cách khác là con người có sức lao ñộng. Thể lực phụ thuộc vào sức khỏe, về chế Luan van 15 ñộ ăn uống, nghĩ ngơi, về mức sống, về chế ñộ y tế… của từng người. Hiện nay, sự nghiệp CNH – HðH của ñất nước gắn liền việc áp dụng phổ biến các phương pháp sản xuất công nghiệp, các thiết bị và công nghệ hiện ñại, do ñó ñòi hỏi người lao ñộng phải có sức khỏe, thể lực cường tráng và tinh thần thoải mái ñể tham gia vào quá trình lao ñộng một cách hăng say hơn.
- Trí lực chỉ năng lực trí tuệ của con người. Trí lực là khả năng phân tích và giải quyết vấn ñề, ñồng thời cũng là năng lực nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Trí lực ảnh hưởng ñến khả năng tư duy, tiếp thu khoa học – công nghệ, năng lực sáng tạo trong công việc,… - Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người ñược ñánh giá từ mối quan hệ qua lại của người ñó với những người khác, với tổ chức, với xã hội và cả với thế giới tự nhiên xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ cho ñến tương lai. Nhân cách là một thứ giá trị ñược xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó ñặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc.
Nguồn nhân lực Khái niệm “Nguồn nhân lực” ñược sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á và giờ ñây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan ñiểm mới về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển. Ở nước ta, khái niệm này ñược sử dụng rộng rãi kể từ ñầu thập niên 90 của thế kỷ XX ñến nay. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, tùy theo cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau của mỗi tác giả mà có quan niệm khác nhau về NNL. Có thể nêu một số quan niệm như sau: Theo cách tiếp cận của Liên Hợp Quốc thì: “NNL là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của ñất nước”.
Theo Begg, Ficher và Dornbush, khác với nguồn lực vật chất khác, Luan van 16 “NNL ñược hiểu là toàn bộ trình ñộ chuyên môn mà con người tích lũy ñược, nó ñược ñánh giá cao vì tiềm năng ñem lại thu nhập trong tương lai”. Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá nhân”. Như vậy, ở ñây nguồn lực con người ñược coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo tổ chức quốc tế (ILO) thì: “NNL của một quốc gia là toàn bộ những người trong ñộ tuổi có khả năng tham gia lao ñộng”.
Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của nhà xuất bản Lao ñộng – Xã hội: NNL bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao ñộng, không phân biệt người ñó ñang ñược phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi ñây là nguồn nhân lực xã hội”.7] Như vậy, khái niệm NNL theo nghĩa rộng tức là xét trên toàn bộ nền kinh tế có thể ñược hiểu ngắn gọn là: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao ñộng của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một ñịa phương ñã ñược chuẩn bị ở mức ñộ nào ñó, có khả năng huy ñộng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của ñất nước (hoặc một vùng, một ñịa phương cụ thể). Với cách tiếp cận này, NNL như một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính… Theo phạm vi hẹp hơn thì NNL ngành ñược hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và ñược liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất ñịnh. NNL khác với các nguồn lực do chính bản chất của con người. Ở mỗi người ñều có năng lực, ñặc ñiểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công ñoàn bảo vệ quyền lợi của họ, có thể ñánh giá và ñặt câu hỏi ñối với hoạt ñộng của người lãnh ñạo, hành vi của họ có thể thay ñổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác ñộng của môi trường xung quanh.
Nguồn nhân lực của một ngành là chất lượng, năng lực của toàn bộ con Luan van 17 người hiện có và tiềm năng của ngành phù hợp và ñáp ứng yêu cầu của chiến lược phát triển ngành, ñịa phương ñó trong một thời kỳ nhất ñịnh. Tiềm năng ñó bao hàm tổng hòa tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của mỗi người lao ñộng có thể ñáp ứng ñược yêu cầu, nhiệm vụ của ngành, ñịa phương ñó. Từ những phân tích trên, có thể thấy Nguồn nhân lực không chỉ ñơn thuần là số lượng và cơ cấu lao ñộng ñã và sẽ có mà còn bao gồm cả chất lượng lao ñộng (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp) và phẩm chất lao ñộng (thái ñộ, tác phong, phong cách làm việc) nhằm ñáp ứng yêu cầu cả một ngành, ñịa phương, một vùng, hoặc một quốc gia. Phát triển nguồn nhân lực Hiện nay trên thế giới ñang tồn tại nhiều cách tiếp cận khác nhau về phát triển nguồn nhân lực (human resources development).
- Phát triển NNL là các hoạt ñộng nhằm chuẩn bị cho nhân viên theo kịp với cơ cấu tổ chức khi nó thay ñổi và phát triển. - Phát triển NNL là quá trình trang bị kiến thức nhất ñịnh về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao ñộng, ñể họ có thể ñảm nhiệm ñược một công việc nhất ñịnh. - Phát triển NNL là truyền ñạt các kiến thức, thay ñổi quan ñiểm, nâng cao kỹ năng thực hành cho người lao ñộng trong tương lai. - Phát triển: Là quá trình biến ñổi, hoặc làm cho biến ñổi từ ít ñến nhiều, từ hẹp ñến rộng, từ thấp ñến cao.
Là quá trình học tập, nhằm mở ra cho cá nhân những công việc mới dựa trên cơ sở những ñịnh hướng tương lai cho tổ chức.[17] UNESCO sử dụng khái niệm phát triển NNL theo nghĩa hẹp và cho rằng phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp yêu cầu phát triển của ñất nước. Còn theo Tổ chức Lao ñộng Thế giới (ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình ñộ lành nghề Luan van 18 hoặc vấn ñề ñào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực ñó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Liên hiệp quốc thì nghiêng về sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục, ñào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc ñẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.[14] Phát triển NNL còn ñược hiểu là tạo ra tiềm năng của con người thông qua ñào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và ñào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối ña tiềm năng ñó trong các hoạt ñộng lao ñộng thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo ñiều kiện về môi trường làm việc (phương tiện lao ñộng có hiệu quả và các chính sách hợp lý…), môi trường văn hóa, xã hội kích thích ñộng cơ, thái ñộ làm việc của con người, ñể họ mang hết sức mình hoàn thành các nhiệm vụ ñược giao.[16] Nếu hiểu phát triển là khuynh hướng vận ñộng từ thấp ñến cao, từ kém hoàn thiện ñến hoàn thiện hơn của các sự vật, hiện tượng thì “Phát triển nguồn lực con người là quá trình làm thay ñổi chất lượng nguồn lực con người; là tạo ñiều kiện, cơ hội ñể nâng cao vai trò của nguồn lực con người qua ñó làm tăng những giá trị ñích thực và ý nghĩa lớn lao của nguồn lực này trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội”. Nói ñến phát triển nguồn lực con người, trước hết phải nói ñến sự phát triển số lượng và chất lượng nguồn lực con người.
Trong ñó phát triển chất lượng nguồn lực con người (năng lực thể chất và tinh thần: trình ñộ; tri thức và năng lực thực tiễn; kỹ năng nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, tác phong làm việc và phẩm chất ñạo ñức…) có ý nghĩa quyết ñịnh ñối với việc phát triển nguồn lực con người. Như vậy, mặc dù có sự diễn ñạt khác nhau song có một ñiểm chung nhất phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực Luan van 19 của con người về mọi mặt ñể tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia.