CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ Hầu hết các công trình nghiên cứu đều cho rằng phát triển NNLCLC có một vai trò rất quan trọng liên quan đến sự “hưng suy” của nền kinh tế và mang tính quyết định đối với sự nghiệp CNH-HĐH và hội nhập của một quốc gia. Trong bài viết “Trí lực và nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia” [73] đã cho rằng nhân lực chất lượng cao chính là nhân tài, là trí lực của đất nước và chia làm 3 loại cơ bản: (1) nhân tài trong lãnh đạo, quản lý (chính trị gia lỗi lạc, nhà quản lý tài ba.); (2) nhân tài là trí thức (nhà bác học, giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, văn nghệ sĩ nổi tiếng.) và (3) nhân tài trong lao động sản xuất (doanh nhân, nghệ nhân nổi tiếng. Đồng thời, nhấn mạnh vai trò của đội ngũ nhân tài này trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế “là bộ chỉ huy, đầu tàu của nguồn nhân lực, có ý nghĩa quyết định đến tốc độ phát triển của đất nước”[73, tr. Gary Becker, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1992, đã khẳng định rằng: “ Không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn lực con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục.
Hiệu quả đầu tư phát triển con người luôn cao hơn hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác, tiết kiệm được việc sử dụng và khai thác các nguồn lực khác, và có độ lan toả đồng đều hơn so với các hình thức đầu tư khác” [109, tr. Trên thế giới và trong phạm vi khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, đã có nhiều quốc gia và lãnh thổ đã thành công với chiến lược phát triển kinh tế bền vững bằng nguồn nhân lực chất lượng cao khi họ chuyển sang mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào tri thức như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc….Đây là những quốc gia không được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên, lại có mật độ dân cư đông đúc, nhưng nhờ vào việc sớm nhận thức được vai trò nòng cốt của NNLCLC và đã đưa chiến lược phát triển NNLCLC làm trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội mà những nước này đã đạt được những bước phát triển đáng kể nhất là về công nghiệp và KHCN [92]. Do đó, phát triển 13 NNLCLC không chỉ là một yếu tố đầu tư đem lại nhiều lợi nhuận và ưu thế cạnh tranh mà còn là định hướng mang tầm chiến lược, là khâu đột phá quyết định, là yếu tố hàng đầu để đẩy mạnh KHCN nhằm phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Việt Nam đang trong giai đoạn điều chỉnh, tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng bền vững dựa vào các ngành kinh tế có giá trị cao.
“Vì vậy, quá trình trí thức hoá người lao động thường bắt đầu trước hết trong hàng ngũ giai cấp công nhân, lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội hiện đại. Đầu tư cho nguồn nhân lực này sẽ là mũi đột phá quan trọng để tiến sâu vào nền kinh tế tri thức, tiến hành CNH-HĐH thắng lợi, khẳng định vị trí của Việt Nam trên thị trường thế giới và trong chuỗi giá trị toàn cầu” [72,tr. Với chủ trương CNH-HĐH theo chiều sâu và phát triển kinh tế tri thức để tạo nền tảng đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì phát triển NNLCLC chính là điều tất yếu và khâu đột phá mang tính quyết định. Bởi vì, để đạt được nền kinh tế tri thức thì chúng ta cần đáp ứng 4 tiêu chí chính, đó là: (1) trên 70% GDP có được những ngành sản xuất và dịch vụ ứng dụng công nghệ cao; (2) trên 70% cơ cấu giá trị gia tăng là kết quả của lao động trí óc; (3) trên 70% lực lượng lao động xã hội là lao động trí thức và (4) trên 70% vốn sản xuất là vốn con người [33].
Theo đó, lực lượng lao động chất lượng cao phải chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng số lực lượng lao động quốc gia. Mô hình tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ thay đổi theo xu hướng giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, tăng hàm lượng tri thức và công nghệ cao. Hàng loạt ngành nghề mới sẽ ra đời và vì thế phát triển, phân bố và sử dụng NNLCLC là “nhân tố quyết định bảo đảm cho nền kinh tế phát triễn nhanh và bền vững” [59,tr. Sau một thời gian hội nhập, thu hút đầu tư và công nghệ của nước ngoài, nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang thoát ra khỏi nhóm các nước nghèo, tham gia vào nhóm các nước có thu nhập trung bình.
Tuy nhiên, với trình độ KHCN còn thấp và nguồn nhân lực kém chất lượng, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức duy trì tăng trưởng và phát triển dài hạn, đặc biệt là “bẫy thu nhập trung bình”. Nếu không có sự chuẩn bị, đầu tư phù hợp và thiết thực nhằm xây dựng một đội ngũ lao động chất lượng cao để có thể tiếp quản công nghệ và phương thức sản xuất mới thì 14 Việt Nam sẽ bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình như các nước Thái Lan, Indonexia, Malaysia….Do đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đặc biệt là nguồn nhân lực công nghiệp và hệ thống đào tạo nhân lực chính là yếu tố quan trọng đang được quan tâm hàng đầu và hết sức cần thiết để Việt Nam có thể duy trì được tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và vượt qua bẫy thu nhập trung bình trong giai đoạn tiến tới một nước công nghiệp hiện đại [88]. “Chất lượng nguồn nhân lực là năng lực nội sinh đặc biệt quan trọng chi phối quá trình phát triển của đất nước. NNLCLC cao với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám…nếu được đào tạo, bồi dưỡng, khai thác, sủ dụng hợp lý sẽ gia tăng rất nhiều so với các nguồn lực khác; nó có vai trò quyết định đến tốc độ phát triển kinh tế bền vững, đảm bảo an sinh xã hội của đất nước” [90, tr.
NNLCLC là lực lượng với những phẩm chất, kỹ năng nổi trội, có 2 vai trò quyết định đến phát triển kinh tế, đó là: vai trò sáng tạo KHCN và vai trò tiếp thu-ứng dụng KHCN. Phát triển NNLCLC là chìa khoá để biến những thách thức của cách mạng công nghiệp 4.0 thành động lực cho sự phát triển của đất nước. Trong cuộc CMCN 4.0, lao động giá rẻ và tài nguyên phong phú không còn là lợi thế của các quốc gia. Đi cùng với sự phát triển nhảy vọt của KHCN phải là những nhân lực có đủ năng lực sáng tạo, hấp thu và ứng dụng nó.
Do đó, phát triển NNLCLC đóng vai trò rất quan trọng để Việt Nam không bị tụt hậu mà còn có thể tận dụng cơ hội của cuộc CMCN 4.0 để tăng trưởng bứt phá và bền vững trong tương lai [49].2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 Theo Báo cáo về Sự sẵn sàng cho nền sản xuất tương lai 2018 của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), mức độ sẵn sàng với CMCN 4.0 của Việt Nam khá thấp (đạt 4,9/10 điểm), thuộc nhóm “Sơ khai” cùng các nước Cambodia và Indonesia. Trong khi đó, các nước thuộc Asean như Singapore và Malaysia thì nằm trong nhóm “Dẫn đầu trên toàn cầu”, Thái Lan và Philipine thì nằm trong nhóm “Độ sẵn sàng cao”.1 Đánh giá về mức độ sẵn sàng cho sản xuất trong tương lai của Việt Nam so với các nước ASEAN Nguồn: WEF Readiness for Future of Production Report 2018 (dẫn lại từ [110,tr.7]) Tuy ở vị trí sắp chạm tới nhóm “Tiềm năng cao” nhưng theo đánh giá của các chuyên gia thì cơ sở hiện tại của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó chất lượng nguồn nhân lực với thứ hạng 70/100 về nguồn nhân lực. “Việt Nam xếp sau Malaysia, Thái Lan, Philippines và chỉ xếp hạng gần tương đương Campuchia. Việt Nam xếp hạng thuộc nhóm cuối trong bảng thứ hạng về lao động có chuyên môn cao, thứ 81/100 thậm chí xếp hạng sau Thái Lan và Philippin trong nhóm các nước ASEAN.
Và cũng trong báo cáo này, thứ hạng về chất lượng đào tạo nghề của Việt Nam chỉ ở thứ 80/100, so với trong nhóm các nước ASEAN thì chỉ đứng trước Campuchia (92/100)” [110,tr. Theo Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2014 [66], năng suất lao động chính là nguồn lực chính của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Bởi vì thời kì dân số vàng của Việt Nam đang qua đi, đồng nghĩa với việc quy mô của lực lượng lao động sẽ không còn là nguồn lực chính cho tăng trưởng mà thay vào đó là tập trung để tăng năng suất lao động. Và giải pháp chính là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tính đến năm 2020, tổng số lao động của nước ta là 56,2 triệu người với 65% đã qua đào tạo ở tất cả các trình độ. Tuy nhiên, phần lớn các lao động này tập trung ở các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng thấp và ít gắn với chuỗi cung ứng toàn cầu. Chỉ số lao động có chuyên môn cao của Việt Nam khá thấp xếp thứ 81 trong khi Philipines xếp thứ 50, Malaysia thứ 45 và Singapore là đứng thứ 1 [92, tr. Cơ cấu nguồn 16 nhân lực của Việt Nam chưa cân đối giữa các ngành đào tạo, đặc biệt là nhân lực được đào tạo trong các ngành kỹ thuật-công nghệ còn chiếm tỷ trọng thấp.
Thực trạng “khát” lao động có trình độ kỹ thuật cao, công nhân lành nghề ở các ngành, lĩnh vực trọng điểm, đặc biệt trong các ngành công nghiệp như cơ khí, điện tử, kỹ thuật điện… chính là những rào cản lớn cho việc cải thiện năng suất lao động của Việt Nam [93]. Mặc dù, năng suất lao động của Việt Nam đã có sự cải thiện tuy nhiên so với các nước trong khu vực vẫn còn khoảng cách khá xa. Theo số liệu công bố của Tổ chức lao động thế giới (ILO) năm 2018, năng suất lao động của Việt Nam chỉ đạt 3.312USD/người/năm, thấp hơn Singapore 30 lần; Thái Lan là 3,3 lần và Philipine là 2 lần. Nếu không có sự thay đổi thì phải đến năm 2038 Việt Nam mới có thể đuổi kịp năng suất lao động của Philipine và đến 2069 mới bằng Singpore.
Đây chính là hạn chế của nguồn nhân lực Việt Nam khi hội nhập vào khu vực và thế giới.